luật sư chuyên về nhà đất về bồi thường

 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
              TP. Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2026
BÊN KHIẾU NẠI:
1/Họ và tên :    
       
BÊN BỊ KHIẾU NẠI:
Tên :    
       
 
NỘI DUNG KHIẾU NẠI:
…………………………………...
Theo Quyết định số 1206/QĐ-UBND ngày 08/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt và Phương án số 466/PABT-HĐBT ngày 08/4/2026, Phương án số 301/PABT-HĐBT ngày 17/9/2026 về việc chi tiết bồi thường, hỗ trợ bổ sung dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện Bình Chánh thuộc dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 (đoạn từ Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Long An), theo phương thức đối tác công tư (Hợp đồng BOT) (nay là đường Lê Khả Phiêu) của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt, với nội dung là chúng tôi bị Nhà nước thu hồi phần đất có diện tích 382,0 m², thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 27 (theo tài liệu bản đồ địa chính), địa chỉ: 2050 Lê Khả Phiêu, ấp 53, xã Tân Nhựt, Tp. Hồ Chí Minh.
Với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 3.083.705.400 (ba tỷ, không trăm tám mươi ba triệu, bảy trăm lẻ năm nghìn, bốn trăm lẻ không đồng). Tuy nhiên, chúng tôi không đồng ý với Quyết định số 1206/QĐ-UBND ngày 08/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt.
Ngày 25/09/2026, chúng tôi đã gửi đơn khiếu nại đối với Quyết định 1206/QĐ-UBND và được cấp thông báo số 1170/TB-UBND về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu đề ngày 13/10/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt. Trong đơn khiếu nại, chúng tôi trình bày những nội dung yêu cầu giải quyết khiếu nại như sau:
“1. Tiếp nhận và giải quyết nội dung khiếu nại của gia đình tôi đối với phần diện tích 21,6 m²  không được bồi thường và kết quả đo đạc, xác định ranh giới thửa đất;
2. Chỉ đạo cơ quan chuyên môn, đơn vị thực hiện công tác bồi thường và đơn vị đo đạc kiểm tra lại hồ sơ địa chính, nguồn gốc sư dụng đất, hồ sơ thu hồi đất trước đây và tổ chức đối chiếu, đo đạc thực tế;
3. Làm rõ căn cứ pháp lý của việc xác định 21,6 m²  là “hiện trạng đất là đường Quốc lộ 1” và căn cứ không bồi thường đối với diện tích này;
4. Làm rõ nguyên nhân chênh lệch giữ 15,7 mặt tiền theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 14,39 m theo kết quả đo đạc;
5. Trường hợp kết quả kiểm tra, đo đạc xác định phương án hiện nay chưa phù hợp, đề nghị điều chỉnh lại diện tích đất thu hồi và phương án bồi thường, hỗ trợ tương ứng theo quy định;
6. Đề nghị UBND xã cung cấp cho gia đình tôi văn bản trả lời và các tài liệu làm căn cứ xác định diện tích 21,6 m² cũng như kết quả đo đạt phần đất thu hồi để gia đình được biết, đối chiếu và thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định pháp luật.”
Tuy nhiên, sau khi xem xét hồ sơ và các tài liệu liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, chúng tôi nhận thấy ngoài những nội dung đã khiếu nại nêu trên, việc xác định loại đất và đơn giá bồi thường đối với diện tích 382,0 m² cũng chưa được xem xét, đánh giá thỏa đáng. Do đó, bằng đơn này, chúng tôi bổ sung nội dung khiếu nại như sau:
  1. Việc Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt xác định toàn bộ diện tích đất bị thu hồi của chúng tôi là đất trồng cây lâu năm và áp dụng đơn giá bồi thường 8.551.000 đồng/m² chưa được xem xét trên cơ sở đầy đủ và thực tế sử dụng đất.
Theo phương án bồi thường, hỗ trợ được phê duyệt, Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt xác định diện tích 382,0 m² đất bị thu hồi của chúng tôi là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, với đơn giá bồi thường 8.551.000 đồng/m² trên phần diện tích là 360,4 m² với số tiền là 3.083.780.400 đồng, còn phần diện tích còn lại 21,6 m2 không được bồi thường vì “Hiện trạng đất lề đường Quốc lộ 1”. Tuy nhiên, chúng tôi không đồng ý với việc xác định loại đất và đơn giá bồi thường nêu trên, bởi lẽ phần đất bị thu hồi của chúng tôi có cơ sở và căn cứ để xác định là “đất thương mại, dịch vụ” vì đã được chúng tôi sử dụng vào hoạt động kinh doanh, thương mại, cụ thể là kinh doanh mặt hàng trang trí nội thất.
Thứ nhất, từ đầu năm 2021, chúng tôi đã mua bán, kinh doanh trên phần đất này, có tổ chức hoạt động kinh doanh, cụ thể là bán hàng trang trí nội thất. Có thành lập hộ kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 41T8030474 do Phòng Tài chính – Kế hoạch, UBND huyện Bình Chánh đăng ký lần đầu ngày 26/04/2021 và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế ngày 27/04/2021 của Chi cục Thuế huyện Bình Chánh. Sau này chúng tôi đã chuyển đổi mô hình kinh doanh từ hộ kinh doanh sang công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, có mã số doanh nghiệp 0318986560 do Phòng Đăng ký kinh doanh đăng ký lần đầu ngày 05/06/2025.
Thứ hai, căn cứ theo điểm b khoản 5 Điều 5 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2024, quy định chi tiết về loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp.
“Điều 5. Quy định chi tiết loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp
5. Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, bao gồm:
…
b) Đất thương mại, dịch vụ là đất xây dựng các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, thương mại và các công trình khác phục vụ cho kinh doanh, dịch vụ, thương mại; cơ sở lưu trú, dịch vụ cho người chơi gôn (trừ phần đường gôn của sân gôn, sân tập trong sân gôn và hệ thống cây xanh, mặt nước, cảnh quan, hạng mục công trình phục vụ cho việc quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng, kinh doanh sân gôn); trụ sở, văn phòng đại diện của các tổ chức kinh tế; đất làm kho, bãi để hàng hóa của tổ chức kinh tế không thuộc khu vực sản xuất; bãi tắm gắn với cơ sở kinh doanh, dịch vụ;
Như vậy, quy định nêu trên cho thấy đất thương mại, dịch vụ được nhận diện theo mục đích sử dụng đất. Trên thực tế, quá trình sử dụng đất của chúng tôi là kinh doanh, mua bán hàng hóa từ nhiều năm về trước, có cơ sở để xác định là đất thương mại dịch vụ. Vì vậy, khi Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt xác định loại đất để lập phương án bồi thường, đã không xem xét đầy đủ hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng đất, hồ sơ địa chính, nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất thực tế, hiện trạng sử dụng đất.
Do đó, từ những lập luận và căn cứ đã viện dẫn trên, phần đất của chúng tôi có đủ điều kiện và có cơ sở để được xem xét là “đất thương mại, dịch vụ” vì là đất xây dựng có cơ sở kinh doanh, dịch vụ bán hàng nội thất, vì vậy phải được bồi thường theo giá đất 35.937.000 đồng/m².
  1. Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt nhận định chúng tôi không đủ điều kiện để xem xét bồi thường, hỗ trợ về công trình vật kiến trúc là không có cơ và không đúng quy định pháp luật.
Theo trang 02 của Phương án chi tiết bồi thường , hỗ trợ số 466/PABT-HĐBT ngày 08/4/2026 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Dự án thể hiện như sau:
“a. Đơn giá loại công trình, vật kiện trúc
STT Loại công trình, vật kiến trúc (Theo quyết định số 66/2024/Q Đ-UBND) Chỉ số giá xây dựng năm 2025 Đơn giá (đồng/m²) Giá bồi thường (đồng/m²)  
Ghi chú
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
1 Của cuốn NGANG 6,0 M CA0 6,0M  
 
Không đủ điều kiện để xem xét bôi thường hỗ trợ, do xây dựng sau năm 2014
2 Biển quảng cáo Alu ngang 12,0m cao 2,6 m
3 Sân bê tông
4 Xưởng: cột thép 250, tường gạch + tôn, mái tôn, sàn gỗ, nề bề tông
b. Giá trị bồi thường, hỗ trợ công tình, cấu trúc xây dựng trên đất:
STT Diện tích
(m²)
Đơn giá
(đồng/m²)
Tỷ lệ
(%)
Đơn giá (đồng/m2) Giá bồi thường (đồng/m2) Ghi chú
(1) (2)   (3) (4) (5) (6)
b.1 Bồi thường về công trình, cấu trúc xây dựng trên đất
b.2 Hỗ trợ khác: về công trình, cấu trúc xây dựng trên đất
1 36,0  
Không đủ điều kiện xem xét bồi thường, hỗ trợ, do xây dựng sau năm 2014
2 31,2
3 275,8
4 31,9
5 7,7
Tổng cộng (2): 0 đồng
                 
Tuy nhiên, tại phần ghi chú của phương án, cơ quan lập phương án xác định các công trình, vật kiến trúc nêu trên không đủ điều kiện xem xét bồi thường, hỗ trợ với lý do “xây dựng sau năm 2014”; đồng thời, tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ đối với công trình, vật kiến trúc trên đất được xác định bằng 0 đồng.
Chúng tôi không đồng ý với cách xác định này, vì cho rằng việc loại trừ toàn bộ giá trị các công trình, vật kiến trúc chỉ dựa trên nhận định chung là được xây dựng sau năm 2014, trong khi chưa làm rõ thời điểm tạo lập, nguồn gốc, hiện trạng, tính chất và căn cứ pháp lý của từng công trình, là chưa bảo đảm tính khách quan, đầy đủ và chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng. Căn cứ theo khoản 2, Điều 105 Luật Đất đai 2024 quy định như sau:
“Điều 105. Trường hợp không được bồi thường tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất
…
2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập trong thời hạn hiệu lực của thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này.”
Việc Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt căn cứ vào việc tài sản được dựng xây sau năm 2014 để không hỗ trợ bồi thường. Trong khi, tại khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai 2024 quy định rõ trường hợp không được bồi thường tài sản gắn liền với đất khi “tài sản được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc trong thời hạn hiệu lực của thông báo thu hồi đất”. Trong khi, tài sản của chúng tôi được tạo lập hợp pháp, đúng quy định của pháp luật và không thuộc trường hợp trong thời hạn hiệu lực của thông báo, có đủ cơ sở và căn cứ để chúng tôi được Nhà nước hỗ trợ bồi thường đối với các hạng mục công trình, vật kiến trúc có trên đất.
Do đó, Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt chỉ ghi nhận lý do “xây dựng sau năm 2014” mà không thể hiện rõ căn cứ pháp lý, thời điểm tạo lập và tình trạng pháp lý của từng hạng mục là chưa đủ cơ sở để kết luận toàn bộ các công trình, vật kiến trúc đều không được bồi thường, hỗ trợ.
Đồng thời, ngoài hai phần nội dung chúng tôi đã nêu trong đơn khiếu nại bổ sung này. Chúng tôi vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung yêu cầu đã trình bày trong đơn khiếu nại đề ngày 25/09/2026, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến diện tích 21,6 m² không được bồi thường và sự chênh lệch về chiều dài mặt tiền giữa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với kết quả đo đạc thực tế.
Từ những phân tích và căn cứ đã viên dẫn trên, chúng tôi không đồng ý với Quyết định số 1206/QĐ-UBND ngày 08/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt và Phương án chi tiết bồi thường , hỗ trợ số 466/PABT-HĐBT ngày 08/4/2026 và Phương án bổ sung 301/PABT-HĐBT ngày 17/9/2026 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Dự án vì còn nhiều sai sót và không có cơ sở pháp lý rõ ràng.
YÊU CẦU CỦA NGƯỜI KHIẾU NẠI:
Nay bằng đơn này, chúng tôi đề nghị Quý cơ quan giải quyết cho chúng tôi những vấn đề sau:
1/ Yêu cầu xem xét sửa đổi, điều chỉnh Quyết định số 1206/QĐ-UBND ngày 08/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt và Phương án chi tiết bồi thường , hỗ trợ số 466/PABT-HĐBT ngày 08/4/2026 và Phương án bổ sung 301/PABT-HĐBT ngày 17/9/2026 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Dự án.
2/ Kiểm tra, xác minh lại quá trình quản lý, sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất thực tế đối với phần diện tích 382,0 m² bị thu hồi; đánh giá đầy đủ các tài liệu chứng minh hoạt động kinh doanh, thương mại tại khu đất để xác định đúng loại đất theo quy định pháp luật.
3/ Yêu cầu xem xét điều chỉnh mức bồi thường, hỗ trợ đối với phần đất bị thu hồi có diện tích 382,0 m² trong trường hợp đủ điều kiện áp dụng chính sách bồi thường đối với đất thương mại, dịch vụ, đề nghị xem xét đơn giá 35.937.000 đồng/m² theo đúng quy định pháp luật.
4/ Kiểm tra, xác minh thực tế đối với toàn bộ các công trình, vật kiến trúc bao gồm cửa cuốn, biển quảng cáo Alu, sân bê tông, nhà xưởng và hạng mục có liên quan. Đồng thời, đề nghị xem xét bồi thường, hỗ trợ đối với các công trình, vật kiến trúc đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; trường hợp không xem xét bồi thường, hỗ trợ thì phải nêu rõ căn cứ pháp lý và lý do cụ thể đối với từng hạng mục.
5/ Đề nghị Quý Cơ quan ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản cho chúng tôi, trong đó nêu rõ căn cứ pháp luật và kết quả giải quyết đối với từng nội dung khiếu nại của chúng tôi.
Chúng tôi cam kết những nội dung trình bày trên là đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung khiếu nại của mình và kính đề nghị Quý cơ quan xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Trân trọng cảm ơn./.

Hình ảnh văn phòng bào chữa