Tin tức mới
1. Xác định tài sản chung
Theo quy định tại Điều 33 và Điều 34 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân như sau:
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
"Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng
nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Theo quy định tại Điều 33 và Điều 34 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân như sau:
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
"Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng
nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Thông qua những vụ việc tranh chấp chung cư đã được giải quyết hoặc đang trong quá trình giải quyết cho thấy, việc tranh chấp chung cư chỉ được giải quyết khi cả cư dân cùng với chủ đầu tư đều cùng nhìn về một phía, cùng bình tĩnh nói chuyện để giải quyết mọi khúc mắc thì mới có thể giải quyết được toàn bộ vấn đề.
Hiện nay những quy định về pháp lý để xử lý tình trạng tranh chấp chung cư đã được chú ý, nhưng vẫn chưa thực sự đủ chế tài cùng khung pháp lý để xử lý tranh chấp chung cư, khiến việc xử lý tranh chấp chung cư bị chậm trễ, gây hoang mang cho mọi người, thậm chí khi tranh chấp kéo dài còn gây thiệt hại cho tất cả các bên.
Tình trạng tranh chấp chung cư phổ biến nhất chính là sở hữu diện tích chung, trong đó việc phân định diện tích sở hữu chung – riêng dù đã được quy định rõ ràng trong luật nhà nhưng vẫn phát sinh nhiều tranh chấp, trong đó bao gồm tranh chấp tiến độ xây dựng, phí dịch vụ chung cư, chất lượng xây dựng, thu chi và bầu ban quản trị….
Để giải quyết tình trạng này tốt nhất cả ban quản lý nhà chung cư cùng với chủ đầu tư và cư dân đều phải có các buổi họp mặt, đối thoại thẳng thắn để cùng nhau giải quyết đầy đủ các khúc mắc cùng khó khăn của các bên, thong qua đó mọi thông tin đều cần công khai rõ ràng sẽ giúp sự việc giải quyết nhanh chóng và minh bạch.
Tốt nhất trong quản lý chung cư mọi công việc đều cần phải xử lý trên những cam kết và quy định của pháp luật, sáng tỏ mọi đúng sai sẽ giúp giảm thiểu tranh chấp công ty, từ đó bảo vệ tốt được hình ảnh của chủ đầu tư, giữ được mối quan hệ cùng môi trường sống ổn định tốt nhất cho cư dân.
Hiện nay những quy định về pháp lý để xử lý tình trạng tranh chấp chung cư đã được chú ý, nhưng vẫn chưa thực sự đủ chế tài cùng khung pháp lý để xử lý tranh chấp chung cư, khiến việc xử lý tranh chấp chung cư bị chậm trễ, gây hoang mang cho mọi người, thậm chí khi tranh chấp kéo dài còn gây thiệt hại cho tất cả các bên.
Tình trạng tranh chấp chung cư phổ biến nhất chính là sở hữu diện tích chung, trong đó việc phân định diện tích sở hữu chung – riêng dù đã được quy định rõ ràng trong luật nhà nhưng vẫn phát sinh nhiều tranh chấp, trong đó bao gồm tranh chấp tiến độ xây dựng, phí dịch vụ chung cư, chất lượng xây dựng, thu chi và bầu ban quản trị….
Để giải quyết tình trạng này tốt nhất cả ban quản lý nhà chung cư cùng với chủ đầu tư và cư dân đều phải có các buổi họp mặt, đối thoại thẳng thắn để cùng nhau giải quyết đầy đủ các khúc mắc cùng khó khăn của các bên, thong qua đó mọi thông tin đều cần công khai rõ ràng sẽ giúp sự việc giải quyết nhanh chóng và minh bạch.
Tốt nhất trong quản lý chung cư mọi công việc đều cần phải xử lý trên những cam kết và quy định của pháp luật, sáng tỏ mọi đúng sai sẽ giúp giảm thiểu tranh chấp công ty, từ đó bảo vệ tốt được hình ảnh của chủ đầu tư, giữ được mối quan hệ cùng môi trường sống ổn định tốt nhất cho cư dân.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Phòng chống tác tại của rượu bia năm 2019 quy định cấm hành vi xúi giục, kích động, lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu bia.
Việc mời bia được xem như là một văn hóa, lễ nghi khi giao tiếp trong bàn tiệc. Tuy nhiên nhiều trường hợp mời nhậu theo kiểu ép buộc phải uống đến mức không làm chủ được hành vi, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật và nguy hiểm hơn là nhiều người đã có các hành vi coi thường mạng sống của người khác.
Việc chứng minh hành vi xúi giục người khác uống rượu bia chưa có quy định cụ thể. Nếu muốn xử lý có hay không hành vi xúi giục người khác uống rượu bia thì cần phải có người làm chứng hoặc trích xuất ca-me-ra, những hình ảnh, video trong bàn nhậu thì mới có khả năng có căn cứ để xử lý trách nhiệm.
Kể từ ngày 01/01/2020, “hành vi ép buộc” người khác uống rượu bia là hành vi vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, các hành vi sau đây cũng bị cấm theo quy định của Luật Phòng chống tác tại của rượu bia năm 2019:
• Người chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia.
• Bán, cung cấp, khuyến mại rượu, bia cho người chưa đủ 18 tuổi.
• Sử dụng lao động là người chưa đủ 18 tuổi trực tiếp tham gia vào việc sản xuất, mua bán rượu, bia.
• Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, người làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập.
• Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
• Quảng cáo rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên.
Việc mời bia được xem như là một văn hóa, lễ nghi khi giao tiếp trong bàn tiệc. Tuy nhiên nhiều trường hợp mời nhậu theo kiểu ép buộc phải uống đến mức không làm chủ được hành vi, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật và nguy hiểm hơn là nhiều người đã có các hành vi coi thường mạng sống của người khác.
Việc chứng minh hành vi xúi giục người khác uống rượu bia chưa có quy định cụ thể. Nếu muốn xử lý có hay không hành vi xúi giục người khác uống rượu bia thì cần phải có người làm chứng hoặc trích xuất ca-me-ra, những hình ảnh, video trong bàn nhậu thì mới có khả năng có căn cứ để xử lý trách nhiệm.
Kể từ ngày 01/01/2020, “hành vi ép buộc” người khác uống rượu bia là hành vi vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, các hành vi sau đây cũng bị cấm theo quy định của Luật Phòng chống tác tại của rượu bia năm 2019:
• Người chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia.
• Bán, cung cấp, khuyến mại rượu, bia cho người chưa đủ 18 tuổi.
• Sử dụng lao động là người chưa đủ 18 tuổi trực tiếp tham gia vào việc sản xuất, mua bán rượu, bia.
• Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, người làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập.
• Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
• Quảng cáo rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên.
Theo quy định tại Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014 có quy định về thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau:
"1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc."
Theo quy định trên, anh chuẩn bị hồ sơ giấy tờ gồm có: tờ khai (theo mẫu), giấy khai sinh của con, các giấy tờ, chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc của người con để làm thủ tục đăng ký nhận cha cho con. Khi đi làm thủ tục thì các bên cha, mẹ, con đều phải có mặt.
Sau khi có Quyết định công nhận việc nhận cha, con anh mang Quyết định công nhận việc nhận cha cho con đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký khai sinh của cháu để làm thủ tục xin bổ sung thông tin vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh cho cháu bé ( vì cơ quan này là cơ quan đã cấp giấy khai sinh cho cháu). Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ bổ sung thông tin về người cha vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của cháu bé. Sau đó, anh có thể sử dụng Giấy khai sinh mới của cháu đã được bổ sung thêm tên của anh để làm thủ tục nhập khẩu cho cháu theo Hộ khẩu của anh.
Xin cảm ơn!
"1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc."
Theo quy định trên, anh chuẩn bị hồ sơ giấy tờ gồm có: tờ khai (theo mẫu), giấy khai sinh của con, các giấy tờ, chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc của người con để làm thủ tục đăng ký nhận cha cho con. Khi đi làm thủ tục thì các bên cha, mẹ, con đều phải có mặt.
Sau khi có Quyết định công nhận việc nhận cha, con anh mang Quyết định công nhận việc nhận cha cho con đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký khai sinh của cháu để làm thủ tục xin bổ sung thông tin vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh cho cháu bé ( vì cơ quan này là cơ quan đã cấp giấy khai sinh cho cháu). Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ bổ sung thông tin về người cha vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của cháu bé. Sau đó, anh có thể sử dụng Giấy khai sinh mới của cháu đã được bổ sung thêm tên của anh để làm thủ tục nhập khẩu cho cháu theo Hộ khẩu của anh.
Xin cảm ơn!
Để xác định tình trạng pháp lý của lối đi bị tranh chấp, mọi người cần kiểm tra các thông tin như sau:
• Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
• Kiểm tra quy hoạch
• Sơ đồ thửa đất
• Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
• Kiểm tra quy hoạch
• Sơ đồ thửa đất
1. Hãy chắc chắn rằng bạn thật sự muốn ly hôn
Mọi mối quan hệ yêu đương đều sẽ trải qua những quá trình lên xuống, thời gian yêu đương lãng mạn hoặc thời kỳ khủng hoảng của cả hai. Đó là lý do vì sao sự chấp nhận cùng nhau vượt qua thử thách đều được nhắc tới trong lễ đường, và đương nhiên nó không hề đơn giản như khi bạn thốt ra lời thề đó. Nhưng nếu cả hai bạn đều có thể vượt qua được điều đó, thì chắc chắn mối quan hệ vợ chồng của bạn rất đáng quý.
Bạn chỉ nên xem xét vấn đề ly hôn khi đã thực sự kiệt sức với tất cả mọi cố gắng giải quyết vấn đề của bạn trước đó. Đảm bảo rằng bạn đã giải quyết vấn đề đó bằng tất cả tình yêu đối với bạn đời của mình, với tất cả sự bao dung, và có cách nhìn rộng về nó. Nhưng nếu kết quả vẫn không được như mong đợi, đừng buồn vì bạn đã cố gắng hết sức mình để níu kéo mối quan hệ này.
Hãy đào sâu với những lý do khiến bạn cân nhắc việc ly hôn, có phải vì những trở ngại đó dù bạn có cố gắng thế nào đi nữa, bạn cũng không thể vượt qua? Cả hai bạn không thể thỏa hiệp về một vấn đề như có con hoặc nơi để định cư? Có bất cứ trục trặc nào mà cả hai bạn đều chưa thể giải quyết hoặc sửa chữa hay không? Hãy tự hỏi chính mình rằng bạn có thể vượt qua được những khó khăn đó để hạnh phúc bên nhau một lần nữa hay không? Sự bất đồng khiến cả hai bạn giận dữ đến mức nghĩ ngay đến việc ly hôn?
Mọi mối quan hệ yêu đương đều sẽ trải qua những quá trình lên xuống, thời gian yêu đương lãng mạn hoặc thời kỳ khủng hoảng của cả hai. Đó là lý do vì sao sự chấp nhận cùng nhau vượt qua thử thách đều được nhắc tới trong lễ đường, và đương nhiên nó không hề đơn giản như khi bạn thốt ra lời thề đó. Nhưng nếu cả hai bạn đều có thể vượt qua được điều đó, thì chắc chắn mối quan hệ vợ chồng của bạn rất đáng quý.
Bạn chỉ nên xem xét vấn đề ly hôn khi đã thực sự kiệt sức với tất cả mọi cố gắng giải quyết vấn đề của bạn trước đó. Đảm bảo rằng bạn đã giải quyết vấn đề đó bằng tất cả tình yêu đối với bạn đời của mình, với tất cả sự bao dung, và có cách nhìn rộng về nó. Nhưng nếu kết quả vẫn không được như mong đợi, đừng buồn vì bạn đã cố gắng hết sức mình để níu kéo mối quan hệ này.
Hãy đào sâu với những lý do khiến bạn cân nhắc việc ly hôn, có phải vì những trở ngại đó dù bạn có cố gắng thế nào đi nữa, bạn cũng không thể vượt qua? Cả hai bạn không thể thỏa hiệp về một vấn đề như có con hoặc nơi để định cư? Có bất cứ trục trặc nào mà cả hai bạn đều chưa thể giải quyết hoặc sửa chữa hay không? Hãy tự hỏi chính mình rằng bạn có thể vượt qua được những khó khăn đó để hạnh phúc bên nhau một lần nữa hay không? Sự bất đồng khiến cả hai bạn giận dữ đến mức nghĩ ngay đến việc ly hôn?
Luật sư Trần Minh Hùng chuyên gia tư vấn luật trên kênh HTV, VTV, THVL1, ANTV, SCTV1...
Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.
Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như: Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.
Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.
Trân trọng cảm ơn.
ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Email: luatsuthanhpho@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net. vn
http://www.luatsuthanhpho.com
Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội.
Luật sư Trần Minh Hùng Trưởng văn phòng Luật sư Gia Đình- Luật sư sáng lập luật sư Gia Đình có nhiều năm kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn được rất nhiều hãng truyền thông tin tưởng với nhiều năm và thường xuyên cố vấn pháp lý, tư vấn pháp luật trên các Kênh truyền hình uy tín như: Đài Truyền hình TPHCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Đài truyền hình Vĩnh Long, Truyền hình Công an ANTV, SCTV, THQH, Tư vấn luật trên Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình cáp VTC, Đài VOV Giao Thông, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh Kiên Giang, Truyền hình Quốc Hội, Báo Pháp luật TPHCM, Báo tuổi trẻ đời sống, Báo đời sống và pháp luật, Báo Dân trí, Báo Vnxpress, Báo công an nhân dân và các hãng báo chí trên cả nước... là luật sư được Trường Đại học luật TP.HCM mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi Phiên tòa giả định cấp trường ĐHL, Cấp Quốc Gia, học thuật với trường Cảnh sát nhân dân, Nhiều trường đại học uy tín và chuyên gia pháp luật cho các hãng truyền thông uy tín. Là Luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng nổi tiếng trên cả nước được báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ đại án Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như và Viettinbank, Vụ cướp 35 tỷ Long Thành - Dầu giây, Chống thi hành công vụ mùa Covid, các vụ Giết Người, Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, gây thương tích, tham ô, cố ý làm trái... và các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.
Chúng tôi cùng tư vấn luật và cố vấn pháp lý cho nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước rất lâu năm.
Trân trọng cảm ơn.
ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VPLS GIA ĐÌNH (Luật sư Thành Phố)
Trụ sở: 402A Nguyễn Văn Luông, P.12, Q.6, Tp.HCM (Bên cạnh Công chứng số 7)
5/1 Nguyễn Du, Biên Hòa, Đồng Nai (đối diện tòa án Biên Hòa)
68/147 Trần Quang Khải, Tân Định, quận 1, TP.HCM
Điện thoại: 028-38779958; Fax: 08-38779958
Luật sư Trần Minh Hùng: 0972 238006
Email: luatsuthanhpho@gmail.com
http://www.luatsugiadinh.net. vn
http://www.luatsuthanhpho.com
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về người thừa kế theo pháp luật. Cụ thể:
Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
...
Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy, vì khi bố mất không có di chúc nên phần di sản của ông (di sản riêng và phần di sản được chia trong khối tài sản chung bố, me) sẽ được chia theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì chia thừa kế theo pháp luật cho ông, bà (nếu còn), 5 người con trong đó có anh trai, mỗi người được hưởng phần di sản bằng nhau. Tuy nhiên, chưa thực hiện việc phân chia trên thì anh bạn mất nên phần tài sản mà anh bạn được hưởng trong khối di sản bố để lại sẽ được xác định di sản thừa kế và người thừa kế (mẹ bạn và vợ của anh) - tức vợ của anh trai có quyền hưởng từ khối di sản trên.
Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
...
Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy, vì khi bố mất không có di chúc nên phần di sản của ông (di sản riêng và phần di sản được chia trong khối tài sản chung bố, me) sẽ được chia theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì chia thừa kế theo pháp luật cho ông, bà (nếu còn), 5 người con trong đó có anh trai, mỗi người được hưởng phần di sản bằng nhau. Tuy nhiên, chưa thực hiện việc phân chia trên thì anh bạn mất nên phần tài sản mà anh bạn được hưởng trong khối di sản bố để lại sẽ được xác định di sản thừa kế và người thừa kế (mẹ bạn và vợ của anh) - tức vợ của anh trai có quyền hưởng từ khối di sản trên.
· Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
· Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;
· Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
· Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa;
Khi đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, Chủ tọa phiên tòa công bố lý do đương sự vắng mặt hoặc đơn đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt. Vậy nếu thuộc trường hợp nêu trên thì Tòa án vẫn xét xử vắng mặt bị đơn.
Luật sư doanh nghiệp
Hoạt động doanh nghiệp luôn ẩn chứa nhiều rủi do liên quan đến Pháp Luật gây ảnh hưởng xấu đên sự tín nhiễm cũng như thiệt hại về kinh tế. Thuê dịch vụ luật sư doanh nghiệp giúp giải quyết các yêu cầu phát sinh liên quan đến luật trong quá trình hoạt động.
Luật sư doanh nghiệp là gì?
Luật sư doanh nghiệp là luật sư có chuyên môn chuyên sâu về luật doanh nghiệp. Luật sư doanh nghiệp đủ điều kiện tư vấn cần đảm bảo tối thiểu 5 năm trong lĩnh vực pháp lý doanh nghiệp.
Luật sư doanh nghiệp có thể trực thuộc công ty Luật và chịu sự quản lý của doanh nghiệp đó hoặc là thành viên của đoàn luật sư trực thuộc đơn vị.