Tin tức mới

Mức án phí khởi kiện phân chia tài sản chung vợ chồng

 

Án phí khởi kiện phân chia tài sản chung là khoản tiền phải nộp của vợ chồng khi khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung. Vậy theo quy định hiện hành cách tính án phí khi yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung như thế nào?

Có những cách tính án phí nào khi khởi kiện phân chia tài sản chung?

Theo nguyên tắc nêu trên, tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của bên nào thì thuộc về bên đó. Còn tài sản chung của vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ được chia theo thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia cho mỗi bên vợ chồng theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc chia tài sản khi ly hôn không bắt buộc phải chia cho các con, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng cho con khi ly hôn.
Trong trường hợp đặc biệt, tài sản chung của hộ gia đình và con có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm xác lập quyền đối với tài sản đó. Khi vợ chồng ly hôn và tiến hành việc chia tài sản chung, trong đó có tài sản của hộ gia đình thì con cũng được chia phần tài sản tương ứng với phần quyền của con trong khối tài sản đó.

Mẫu Di chúc chuẩn và hướng dẫn chi tiết cách viết

Mọi người thường lập di chúc để lại tài sản cho người khác sau khi qua đời. Sau đây là mẫu di chúc chuẩn nhất kèm hướng dẫn chi tiết cách viết.

Mẫu di chúc mới và chuẩn nhất hiện nay

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Kể từ khi triển khai thực hiện Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8-12-2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực các phòng công chứng (PCC) trong cả nước đã công chứng được hơn một triệu đồng, giao dịch và nộp ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng. Trong đó, các yêu cầu công chứng hợp đồng như: chuyển nhượng, mua bán, thế chấp về bất động sản ngày càng tăng…Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển hoạt động công chứng ở nước ta cũng bộc lộ một số hạn chế cả về tổ chức và hoạt động, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hội nhập với kinh tế thế giới và chưa phát huy hết hiệu quả của sự quản lý Nhà nước. Do sự lẫn lộn giữa  hoạt động công chứng với hoạt động chứng thực trong thời gian qua nên có tình trạng các PCC bên cạnh việc chứng nhận các hợp đồng, giao dịch thì cũng thực hiện các công việc mang tính chất hành chính như chứng thực bản sao các văn bằng, chứng chỉ, giấy tờ. Điều đó dẫn đến việc hầu hết người dân đều coi PCC như một loại cơ quan hành chính công quyền.

Tại sao nên chọn Dịch vụ luật sư riêng cho doanh nghiệp? 

Trong hoạt động kinh doanh việc các doanh nghiệp gặp phải rủi ro pháp lý là vô cùng thường xuyên. Những vấn đề rủi ro thường gặp nhất có thể kể tới như Tranh chấp liên quan đến vấn đề góp vốn giữa các thành viên công ty, cổ đông của doanh nghiệp; Tranh chấp phát sinh từ phương thức góp và tài sản góp vốn; Tranh chấp liên quan các vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động, tiền lương, ký kết hợp đồng lao động, chấm dứt hợp đồng lao động, quy chế, nội quy; Tranh chấp với đối tác, bạn hàng; Các rủi ro pháp lý khi thực hiện các nghĩa vụ, thủ tục tại cơ quan quản lý nhà nước...

Những lợi ích quý khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi:

 Tiếp xúc với người bị buộc tội (trường hợp tại ngoại) hoặc người nhà của người bị buộc tội để nắm bắt vụ việc;

-        Gặp gỡ người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo tại cơ quan điều tra, trại tạm giam để xác định hoặc xác nhận các tình tiết liên quan đến vụ án;

-        Tư vấn, giải thích, hướng dẫn  cho người bị buộc tội về quyền và nghĩa vụ trong vụ án và cách thức hợp pháp để bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình hỏi cung, lấy lời khai, trình bày tại phiên tòa;

-        Tham gia quá trình hỏi cung, lấy lời khai để làm rõ những tình tiết có lợi cho việc bào chữa cũng như bảo vệ người bị buộc tội khi cán bộ điều tra ép cung, mớm cung, dùng nhục hình;

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".
Như vậy, trong trường hợp bạn chứng minh được chồng mình ngoại tình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống hôn nhân của cả hai vợ chồng dẫn đến việc không thể tiếp tục chung sống thì bạn có quyền làm đơn yêu cầu toà án giải quyết ly hôn theo thủ tục pháp luật quy định.
Trong quá trình yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, trường hợp bạn có nhu cầu chia tài sản chung vợ chồng là căn nhà có thể tự thoả thuận hoặc yêu cầu toà án chia tài sản chung vợ chồng. Theo đó, căn cứ xác định tài sản chung vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như sau:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Người lập di chúc có năng lực hành vi dân sự.
Di chúc là một hành vi pháp lý đơn phương do vậy nó phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005, một trong số đó là điều kiện: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”. Năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật, người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, do vậy nếu không mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì được phép lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi có quyền lập di chúc nhưng phải thể hiện bằng văn bản và được sự đồng ý của người giám hộ. “Đồng ý” ở đây chưa được giải thích rõ ràng nhưng chúng ta có thể hiểu là “đồng ý việc lập di chúc” mà không phải là “đồng ý nội dung của di chúc” vì về nguyên tắc, di chúc được giữ bí mật cho tới khi người lập di chúc chết. Như vậy, di chúc miệng chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
“ Tự nguyện” là một dấu hiệu bắt buộc đối với bất cứ một giao dịch dân sự nào và di chúc cũng không ngoại lệ. Tự nguyện trong khoa học pháp lý được xem xét trên cả hai phương diện: ý chí và lý trí. Về ý chí, người lập di chúc nhận thức được hành vi cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện. Điều này có nghĩa là tại thời điểm lập di chúc, người lập di chúc phải hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, và hoàn toàn tự nguyện trong việc thể hiện ý chí của mình. Di chúc được lập trong trường hợp người để lại di chúc thiếu minh mẫn, sáng suốt do mắc bệnh, say rượu, bia hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng bức đều có thể bị tuyên vô hiệu. Về lý trí, người lập di chúc phải có mong muốn xác lập di chúc thông qua việc phản ánh ý chí của mình vào nội dung bản di chúc.
– Hành vi vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này, đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền nhưng chưa thực hiện thì tiếp tục thực hiện hoặc cưỡng chế thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (viết tắt là Nghị định số 121/2013/NĐ-CP) và Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị (viết tắt là Nghị định số 180/2007/NĐ-CP).
– Hành vi vi phạm hành chính được quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 5 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP, xảy ra sau ngày Nghị định số 180/2007/NĐ-CP có hiệu lực, mà đã kết thúc trước ngày Nghị định này có hiệu lực, đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì xử lý theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP.
– Hành vi vi phạm hành chính được quy định tại khoản 3, khoản 5, khoản 6, điểm b khoản 7 Điều 13 và khoản 2 Điều 70 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, mà đã kết thúc trước ngày Nghị định này có hiệu lực, đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì xử lý theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP.
– Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này, mà đã có quyết định xử lý theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm thì bị xử lý theo quy định tại Điều 15 Nghị định này.
– Không áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp tính theo tỷ lệ giá trị phần xây dựng sai phép, không phép đối với trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ.
– Bộ Xây dựng quy định chi tiết các trường hợp và cách tính số lợi bất hợp pháp đối với công trình, phần công trình xây dựng vi phạm tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này.
Những vụ án tranh chấp liên quan đến đất đai, khi nào xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp thừa kế, tranh chấp nhà ở… Thẩm quyền giải quyết và thời hiệu?
Trả lời Xác định đúng quan hệ pháp luật là để áp dụng đúng pháp luật. Quan hệ pháp luật khác nhau thì pháp luật áp dụng để giải quyết khác nhau, trong đó có vấn đề thời hiệu khởi kiện cũng khác nhau. Ví dụ: cùng là quan hệ được xác lập năm 1995, nếu chỉ là tranh chấp đất thì chỉ áp dụng Luật Đất đai năm 1993, nếu là tranh chấp nhà thì áp dụng Pháp lệnh Nhà ở, nếu là tranh chấp thừa kế thì áp dụng Pháp lệnh Thừa kế. * Về xác định quan hệ pháp luật: Xác định quan hệ pháp luật là căn cứ vào yêu cầu của đương sự (khởi kiện của nguyên đơn , phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có liên quan), cụ thể như sau: - Thứ nhất: Xác định đó chỉ là tranh chấp về quyền sử dụng đất nếu như trên đất đó không có tài sản nào khác, hoặc có tài sản nhưng các bên không có tranh chấp về tài sản đó. - Thứ hai: Xác định là tranh chấp về nhà ở nếu gắn liền với đất đó là nhà ở và có tranh chấp về nhà ở. - Thứ ba: Xác định đó là tranh chấp về thừa kế nếu như việc xác định quyền sử dụng đất đó trên cơ sở pháp luật về thừa kế. - Thứ tư: Xác định là quan hệ hôn nhân và gia đình nếu đất tranh chấp có liên quan đên tài sản chung của vợ chồng . -Thứ năm: Xác định là các quan hệ pháp luật khác khi quyền sử dụng đất gắn với các quan hệ đó, như là quan hệ góp vốn, đầu tư…