Tin tức mới
Theo quy định tại điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì bạn nộp đơn xin ly hôn tại tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn cư trú nếu bạn đơn phương ly hôn và tại nơi chồng bạn cư trú hoặc nơi bạn cư trú nếu vợ chồng bạn thuận tình ly hôn.
Căn cứ theo quy định tại Điều 16 Bộ luật lao động năm 2012 quy định như sau:
“Điều 16. Hình thức hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.”
Như vậy, theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012 thì hiện nay đối với những công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng thì các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.
Thứ hai, từ năm 2021 chỉ được giao kết bằng lời nói với HĐLĐ thời hạn dưới 1 tháng
Căn cứ theo quy định tại Điều 14 Bộ luật lao động năm 2019 quy định như sau:
“Điều 14. Hình thức hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
Hợp đồng tặng cho bất động sản và chia thừa kế theo pháp luật
Câu hỏi: Hợp đồng tặng cho bất động sản và chia thừa kế theo pháp luật
Gia đình tôi có một miếng đất thổ cư do bố tôi đứng tên có diện tích 120m2 chưa xây nhà trên đó. Năm 2012 bố tôi có nói là khi nào tôi lấy vợ thì cho tôi miếng đất đó để hai vợ chồng tôi xây nhà ở nhưng đến năm 2015 bố tôi mất và không để lại di chúc. Cuối năm 2016 tôi lấy vợ. Hiện tại, tôi đang muốn làm thủ tục sang tên miếng đất đó để vợ chồng tôi xây nhà ở. Mẹ tôi đã đồng ý rồi nhưng hai anh trai của tôi không đồng ý và đòi chia phần đất đó. Vậy xin hỏi trường hợp của tôi phải giải quyết như thế nào? Việc bố tôi nói cho tôi miếng đất đó có được tính là di chúc miệng hay không?
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến hộp thư tư vấn của VPLS GIA ĐÌNH. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:
Câu hỏi: Kinh chào các Luật sư, tên tôi là Lê Thị M, tôi xin được hỏi Luật sư vấn đề như sau: Gia đình tôi có hai chị em, mẹ tôi mất từ khi tôi 15 tuổi, từ đó đến nay bố tôi vẫn một mình gà trống nuôi con, không đi thêm bước nữa. Bố tôi có một căn nhà trên diện tích 1000m2 ở quê, hồi nhỏ cả gia đình tôi sống ở đó, lớn lên chúng tôi lập gia đình và lên thành phố sống, bố tôi cũng sống cùng chị em tôi trên thành phố nên diện tích đất này nhờ một người bà con trong họ trông nom hộ. Đầu năm 2017, bố tôi bị cảm và mất đột ngột nên không để lại di chúc phân chia di sản cho chị em tôi. Tôi có tìm hiểu thì được biết trường hợp của gia đình tôi phải chia thừa kế theo pháp luật nhưng tôi cũng chưa rõ lắm về vấn đề này.
Vậy Luật sư có thể cho tôi biết Pháp luật hiện hành quy định thế nào về chia thừa kế theo quy định pháp luật? Đối với trường hợp của gia đình tôi thì sẽ chia thừa kế như thế nào cho hợp pháp. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trả lời: Tôi xin thay mặt VPLS GIA ĐÌNH gửi lời cảm ơn chị đã gửi câu hỏi về cho hộp thư tư vấn của Công ty, về vấn đề thừa kế thep pháp luật mà bạn đang phân vân, thắc mắc, tôi xin được giải đáp như sau:
Tài sản thừa kế có phải chia khi ly hôn không?
Sau khi đã xác định được tài sản thừa kế là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng thì áp dụng nguyên tắc chia tài sản sau khi ly hôn theo quy định như sau:
Đối với tài sản thừa kế là tài sản riêng của vợ chồng, tài sản thừa kế sẽ không phải chia khi ly hôn mà thuộc quyền sở hữu riêng của vợ hoặc chồng ( theo khoản 4 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014).
Trong trường hợp tài sản thừa kế được xác định là tài sản chung thì về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có quyền thỏa thuận với nhau về phân chia tài sản. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được chia tài sản chung thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản sau khi ly hôn. Khi đó, Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hay theo luật định, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý chia tài sản chung của vợ chồng như sau:
• Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng luật chia tài sản theo quy định. Nguyên tắc cơ bản là chia đôi cho mỗi bên vợ chồng, trong đó có tính đến các yếu tố như công sức đóng góp của mỗi bên vợ chồng vào khối tài sản chung, yếu tố lỗi dẫn đến việc vợ chồng phải ly hôn,…
- Bịa đặt, sỉ nhục, chửi rủa, một cách thô bỉ, tục tĩu, lăng mạ, lột quần áo giữa đám đông… nhằm vào nhân cách danh dự với tính chất hạ thấp nhân cách, bôi nhọ danh dự của người bị hại, đồng thời làm cho người bị hại cảm thấy nhục nhã trước người khác.
- Hành vi bỉ ổi (có hoặc không kèm lời nói thô tục) với chính bản thân mình hoặc người bị hại trước đám đông để bêu rếu. Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo
Tại điều 171 Bộ luật hình sự 2015 chỉ quy định tội cướp giật tài sản như sau: “Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì…” Như vậy, nhà làm luật cũng không mô tả cụ thể dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản mà chỉ nêu tội danh.
Trên thực tế có rất nhiều quan điểm về tội danh này. Cụ thể, có quan điểm cho rằng: “cướp giật tài sản là nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát”. Hoặc “tội cướp giật giật tài sản là hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai” hay “tội cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng, công khai chiếm đoạt tài sản”.
Theo lý luận và thực tiễn của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, có thể thấy: Cướp giật tài sản là hành vi công khai, nhanh chóng giật lấy tài sản trong tay người khác hoặc đang trong sự quản lý của người có trách nhiệm quản lý về tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Ở đây, không có hành vi dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn nào khác để uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản. Nếu có hành vi này thì có thể xem xét ở tội Cướp tài sản hoặc cưỡng đoạt tài sản.
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
Theo quy định trên thì một trong những điều kiện để chị bạn của bạn có thể chuyển nhượng đất cho bạn đó là phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận này đứng tên một mình chị ấy và chị ấy có toàn quyền sử dụng đối với toàn bộ mảnh đất đó.
Cách xử lý khi có hai kết luận giám định của hai cơ quan giám định mâu thuẫn nhau?
Kết luận giám định tư pháp được xem là một nguồn căn cứ chứng minh tội phạm. Kết luận giám định do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước phát hành, và cơ quan này phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, khách quan của kết luận.
Tuy nhiên, trong 1 vụ án mà kết luận giám định là căn cứ định tội lại có hai bản, được ban hành bởi 2 cơ quan có thẩm quyền khác nhau thì giải quyết như thế nào? cơ quan tiến hành tố tụng có được sử dụng 1 trong 2 bản kết luận có nội dung không giống nhau để buộc tội bị can, bị cáo? Mời các bạn tham khảo bài viết của chúng tôi dưới đây để hiểu thêm về 1 tình huống pháp lý khá thú vị này.
Cách xử lý khi có hai kết luận giám định của hai cơ quan giám định mâu thuẫn nhau?