2 người tổ chức sử dụng ma túy thì có bị khởi tố về khoản 2 tội tổ chức sử dụng ma túy không?

Vướng mắc trong việc định tội 'Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy'

(LSVN) - Tội phạm ma túy là loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm, gây ra mối nguy hại lớn cho đất nước, xã hội, nhân dân. Do đó, công tác phòng, chống tội phạm về ma tuý luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, nhà nước, chính quyền các cấp cũng như sự phối hợp đấu tranh phòng chống tội phạm của đông đảo nhân dân cả nước.

Cùng với việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung và tội phạm ma tuý nói riêng đã đạt được những kết quả to lớn, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, đem lại bình yên cho cuộc sống nhân dân. Việc điều tra, truy tố, xét xử các loại tội phạm ma túy đã góp một phần không nhỏ cho công cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng giải quyết các vụ án ma túy, cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng vẫn còn gặp phải một số những khó khăn, vướng mắc nhất định bởi một số văn bản quy phạm pháp luật đã phát sinh những bất cập. Để tạo cơ sở cho các cơ quan tố tụng thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật, TAND Tối cao đã ban hành Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 trong việc định tội danh tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án đã phát sinh bất cập trong việc định tội danh đối với hành vi này.

Tại điểm 1 mục I Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TAND Tối cao về việc giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử có nội dung hướng dẫn:

Đối tượng có hành vi đưa ma túy cho người khác sử dụng, nhưng không phát hiện có người chỉ huy, phân công, điều hành đối tượng để đưa ma túy cho người khác sử dụng".  Vậy, trường hợp này có xử lý đối tượng là người trực tiếp đã cung cấp ma túy cho người khác về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” hay không?

Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không đồng nhất với khái niệm “phạm tội có tổ chức”. Theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự (BLHS) thì “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Trong tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm).

Do đó, hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong các hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Người có hành vi này bị xử lý theo quy định tại Điều 255 của BLHS.

Từ hướng dẫn trên, khi giải quyết tình huống như sau:

A., B. là đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn có quen biết với nhau, Ngày 01/01/2025, B. liền tới nhà A. xin A. một gói 01 gói ma túy đá để sử dụng (0,05 gram), A. đồng ý. Tuy nhiên, sau đó B. lại bán lại gói ma túy này cho một đối tượng là C. với giá 600.000 đồng.

Trong vụ án nêu trên, hành vi bán trái phép chất ma tuý của B. đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1, Điều 251 BLHS.

Xét đến hành vi của A. thì khối lượng ma tuý mà A. cất giữ trái phép không đủ yếu tố định lượng quy định của tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Khi cho B. ma tuý, A. cũng không biết mục đích B. bán cho người khác nên hành vi của A. không đồng phạm với B. về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tuy nhiên, áp dụng hướng dẫn nêu trên thì A. sẽ phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" do A. đã có hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng mà không cần xét người xin ma túy có sử dụng hay không.

Theo tác giả, để xác định một đối tượng có phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" hay không thì cơ quan tố tụng phải xác định rõ được ý nghĩa hay nói cách khác là phải xác định đầy đủ nội hạm của từ “Tổ chức”. “Tổ chức” có nghĩa là có sự chỉ huy, phân công, điều hành, chuẩn bị địa điểm, công cụ, phương tiện,… trong đó hành vi của các đối tượng có mối quan hệ mật thiết với nhau và đồng phạm với nhau để thực hiện hành vi cùng mục đích đưa ma túy vào cơ thể người khác. Trong trường hợp nêu trên, A. cũng có hành vi “cung cấp ma túy” cho B. để B. sử dụng nhưng hành vi của A. không mang tính chất “Tổ chức” cho B. sử dụng ma túy, ở đây A. đang ở nhà thì B. đến xin ma túy để sử dụng, A. chỉ có duy nhất hành vi cho B. ma túy, hơn thế nữa trong hành vi này của A. cũng không thỏa mãn về yếu tố lỗi trong tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" là lỗi cố ý trực tiếp.

Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 để xác định hành vi khách quan của tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý". Tại tiết 6.1 mục 6 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT quy định hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý phải là một trong chuỗi các hành vi gồm: 

- Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác;

- Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy.

Việc hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 theo tác giả là rất phù hợp thực tiễn, phản ánh đúng, đủ hành vi khách quan của tội phạm, phản ánh đầy đủ nội hàm của việc “tổ chức”, thể hiện rõ ràng tính chất của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý trong thời điểm mà tội phạm ma túy ngày càng phức tạp với tính chất các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, thì việc thống nhất áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tố tụng sẽ tạo cơ sở thuận lợi cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy nói riêng từ đó góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Việc hướng dẫn của Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TAND Tối cao nêu trên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc định tội danh, dẫn đến việc áp dụng còn phát sinh những vướng mắc, bất cập. Tác giả đề xuất cơ quan có thẩm quyền sớm ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn các tội phạm về ma tuý trên cơ sở kế thừa những quy định hợp lý của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007, đồng thời có thể sửa đổi hướng dẫn tại Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TAND Tối cao để việc áp dụng pháp luật được thống nhất và chính xác. 

VŨ VIỆT PHƯƠNG
Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 1

Đưa ma túy cho người khác sử dụng thì có bị khởi tố về tội tổ chức sử dụng ma túy không?

Trả lời:

Ở đây, chúng ta cần hiểu rõ: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không đồng nhất với khái niệm “phạm tội có tổ chức”.

Theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự hiện hành thì “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Trong khi đó, theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự hiện nhành thì tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm).

Do đó, hành vi cung cấp ma túy cho người khác sử dụng là một trong các hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Người có hành vi này sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
 

Hành vi của L và M không thuộc trường hợp phạm tội “đối với 2 người trở lên”

Sau khi nghiên cứu bài viết “Về tình tiết định khung tăng nặng “đối với 2 người trở lên” trong “tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của tác giả Nguyễn Đình Tiến, Châu Thanh Quyền, đăng ngày 29/5/2024, tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất.

Hành vi của L và M phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng không thuộc trường hợp “đối với 2 người trở lên”, vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được hiểu là những hành vi chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng trái phép chất ma túy như bố trí, sắp xếp con người, phương tiện, dụng cụ hoặc cung cấp chất ma túy để người khác sử dụng. Hành vi này khác và không đồng nhất với tình tiết “phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm”. Yếu tố đồng phạm trong tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đơn giản hơn, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ các đồng phạm trong tình tiết “phạm tội có tổ chức”. Việc chỉ huy, phân công điều hành chỉ là việc bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện, cung cấp chất ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Thứ hai, khoản 1 Điều 255 BLHS quy định: “Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”. Như vậy, bất kể người nào đủ năng lực trách nhiệm hình sự có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều là chủ thể của tội phạm, không loại trừ trường hợp đó là người nghiện ma túy.

Thứ ba, hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn về việc xác định “đối với 2 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Tuy nhiên, ý nghĩa của tình tiết “đối với 2 người trở lên” và “đối với nhiều người” là tương tự nhau nên có thể tham khảo tinh thần hướng dẫn tại tiểu mục 2.4 mục 2 Phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 về tình tiết phạm tội “đối với nhiều người” để xác định phạm tội “đối với 2 người trở lên” thì phải xác định người phạm tội đã tổ chức cho 2 người khác (không bao gồm bản thân người phạm tội) sử dụng trái phép chất ma tuý.

Thứ tư, đối với vụ án có nhiều người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý với vai trò đồng phạm thì phải có căn cứ xác định số người sử dụng ma tuý ít nhất là từ 2 người trở lên (không bao gồm người phạm tội) và 2 người trở lên sử dụng ma tuý này có thể là không phạm tội hoặc đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị áp dụng tình tiết phạm tội “đối với 2 người trở lên”.

Trở lại nội dung vụ án, ta thấy Nguyễn Văn L đã đưa 400.000 đồng kêu Nguyễn Văn M liên hệ mua ma túy loại Methamphetamine của người khác (chưa rõ lai lịch), rồi về nhà của M để sử dụng. Khi đến nhà, M lấy chai nước suối đã uống hết nước và đổ nước lọc vào, dùng đũa dùi 02 lỗ trên nắp chai, lấy ống hút và nỏ thuỷ tinh cắm vào 02 lỗ trên nắp chai nước suối và đổ hết gói ma túy vào cái nỏ, dùng hột quẹt vừa mua để đốt ma túy sử dụng. Như vậy, L là người đưa tiền để M đi mua ma túy và M đã dùng nhà của mình để cho M, L và N sử dụng ma túy. Vì vậy, hành vi của L và M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” nhưng do chỉ có một mình N cùng sử dụng ma tuý với L và M nên hành vi của L và M không thuộc trường hợp phạm tội “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS.  

HUỲNH PHAN CHÂU THÀNH (Tòa án quân sự Quân khu 7)


LS TRẦN MINH HÙNG, CHUYÊN BÀO CHỮA ÁN MA TÚY


Hình ảnh văn phòng bào chữa