Khi nào thì quyết định hình phạt nhẹ nhất?

Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng


1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.


Bình luận:

Nếu so sánh quy định này với quy định cũ tại Điều 47 BLHS 1999 thì Bộ Luật mới đã thêm trường hợp quy định tại khoản 2 và mở rộng hơn việc áp dụng (không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề) đối với người phạm tội lần đầu với vai trò là người giúp sức và việc đóng góp không đáng kể. Bên cạnh đó quy định mới cũng tách ra làm 3 Khoản rất rõ rệt, dễ đọc dễ nắm bắt hơn so với quy định cũ khi tất cả nội dung dồn vào một đoạn mà không có sự chia tách để đảm bảo tính truyền đạt nội dung quy phạm.

Trước tiên chúng ta cần phân tích để hiểu hơn về Điều luật trên. Quá trình để tuyên một Bán án hình sự rất dài dòng, phức tạp tuy nhiên để dễ hiểu, tác giả sẽ nêu một cách vắn tắt nhất.

Bước 1: Định tội (xem bị cáo phạm tội gì)

Bước 2: Định khung hình phạt (xem bị cáo sẽ thuộc khung hình phạt nào của tội đó)

Bước 3: Định lượng hình phạt (xem bị cáo bị phạt ở mức cụ thể là bao nhiêu (tiền, năm tù, v.v…)

Trong 3 bước này thì bước 2 là bước mà chúng ta sẽ quan tâm vì nó có liên quan trực tiếp đến quy định tại Điều luật này, cụ thể: Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

Như vậy việc đầu tiên cần làm là phải biết khung hình phạt là gì? Đã nói đến khung là chúng ta phải nói đến một khoảng, có điểm thấp nhất và cao nhất (giống như điểm sàn và điểm trần của khung giá) và về nguyên tắc khi đã xác định được khung hình phạt thì Tòa án chỉ được tuyên hình phạt nằm trong giới hạn của khung đó, nếu không có các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì mức án được tuyên sẽ là trung bình cộng điểm thấp nhất và cao nhất, ví dụ: khung từ 3 – 7 năm thì mức tuyên trong trường hợp này là 5 năm. Nếu càng nhiều tình tiết tăng nặng thì mức án được tuyên sẽ càng tiệm cận đến trần. Trường hợp ngược lại, có càng nhiều tình tiết giảm nhẹ thì mức án sẽ càng tiệm cận đến mức sàng (tối thiểu). Tuy nhiên dù lên trần hay xuống sàn thì mức án được tuyên bắt buộc phải nằm trong giới hạn, đó là nguyên tắc. Tuy nhiên, Điều 54 là ngoại lệ khi pháp luật cho phép Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung (lọt sàn). Pháp luật cũng giới hạn chỉ có 2 trường hợp ngoại lệ được phép áp dụng:

Trường hợp 1: Khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

Trường hợp ngoại lệ này có 2 lưu ý, lưu ý đầu tiên là số lượng tình tiết giảm nhẹ ít nhất phải từ 2 trở lên và tình tiết đó phải là những tình tiết đã được nhà làm luật chỉ định rõ tại Khoản 1 Điều 51. Trở lại với các tình tiết giảm nhẹ chúng ta có thể thấy tại Khoản 2 Điều 51 cho phép Tòa án mở rộng thêm các tình tiết giảm nhẹ kèm theo điều kiện ghi rõ lý do trong Bản án, nhưng những tình tiết giảm nhẹ đó sẽ không có giá trị (không được tính số lượng) để quyết định áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung. Quy định này được kế thừa từ những quy định cũ, không có gì mới lạ cho thấy quan điểm của nhà làm luật không đổi, cho phép Tòa án mở rộng tình tiết giảm nhẹ nhưng cũng kiềm chế việc lạm dụng nhằm chạy án.

Lưu ý thứ hai chính là giới hạn của việc lọt sàn, chính xác là bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn. Thực ra nếu không có 2 từ nhẹ hơn thì chúng ta cũng bắt buộc phải hiểu là nhẹ hơn vì không có chuyện lọt sàn mà lại nặng hơn, tuy vậy để đảm bảo tính chính xác tường minh thì việc quy định thêm hai chữ nhẹ hơn cũng không có gì là thừa. Thêm vào đó phải là liền kề, vì có thể trong một Điều luật (về một tội phạm) có rất nhiều khung khác nhau do vậy từ liền kề giới hạn rõ độ rơi của quyết định hình phạt, không cho phép lọt qua khung liền kề đến khung kế tiếp.

Ví dụ: Điều 173. Tội trộm cắp tài sản có các khung

i) [phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng – 03 năm]

ii) [Phạt tù 02 – 07 năm]

iii) [Phạt tù 07 – 15 năm]

iv) [Phạt tù 12 – 20 năm]

Giả định Tòa án xác định người phạm tội thuộc khung iii) nhưng do có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 nên Tòa án có sử dụng quy định tại Điều Luật này để tuyên mức án nằm trong khung ii) nhưng không được xuống tới khung i)

Trường hợp 2: Người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể (không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn).

Như đã đề cập đây là trường hợp hoàn toàn mới so với quy định cũ, mới cả về trường hợp được áp dụng và mới cả về giới hạn lọt sàn. Cụ thể, nếu trường hợp 1, việc lọt sàn bắt buộc phải rơi váo khung hình phạt liền kề thì trong trường hợp này việc lọt sàn không bắt buộc phải như vậy, trở lại ví dụ phía trên nếu Tòa xác định khung hình phạt áp dụng vẫn là iii) thì khi vận dụng quy định này Tòa có thể ra quyết định phạt trong khung i) mà không bắt buộc là khung ii), lưu ý là không bắt buộc chứ không phải là không, nghĩa là Tòa vẫn có quyền tuyên quyết định phạt ở khung ii) nếu xét thấy phù hợp.

Đối tượng mà nhà làm luật hướng đến ở đây là những người đồng phạm với vai trò là người giúp sức (bản thân vai trò này đã cho thấy mức độ gây thiệt hại cho xã hội đã ít hơn nhiều so với vai trò chủ mưu, cầm đầu, tổ chức, thực hành), thêm vào đó sự giúp sức này đóng góp không đáng kể, tức mức độ gây nguy hiểm cho xã hội đã ít lại càng ít thì sẽ thuộc điều chỉnh của quy định này. Đó cũng là nguyên nhân mà việc lọt sàn không bị giới hạn ở khung liền kề và xét thấy quy định như vậy đã là khá hợp lý.

Có một vấn đề là không phải Điều luật nào cũng có nhiều khung hình phạt hoặc khung hình phạt Tòa án đang định áp dụng đã là khung hình phạt thấp nhất (không có khung liền kề nhẹ hơn) thì không thể áp dụng 2 quy định tại Khoản 1 và Khoản 2. Do đó nhà làm luật đã dự liệu luôn trường hợp này tại Khoản 3, cụ thể như sau:

Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Giả định trường hợp trên xảy ra thì Tòa án có 2 sự lựa chọn: Một là tuyên hình phạt dưới mức thấp nhất của khung ví dụ khung hình phạt là [03 – 07 năm tù] và đã là khung thấp nhất thì Tòa có thể tuyên dưới 03 năm hoặc chuyển sang loại hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền v.v…tùy từng trường hợp cụ thể. 

1. Án treo được hiểu như thế nào?

Theo quy định của pháp luật thì “án treo” là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Về bản chất pháp lý, người bị Tòa án tuyên án treo vẫn là người có tội, có án nhưng được miễn thực hiện bản án đó có điều kiện.

Án treo được hiểu là việc tạm thời miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện nó thể hiện tính nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ tích cực của xã hội cũng như gia đình. Tuy nhiên án treo là chế định pháp lý mà không phải quốc gia nào cũng có. Tại Việt Nam, án treo được quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Án treo là chế định hình sự ra đời từ rất sớm, trải qua một quá trình lịch sử phát triển lâu dài của khoa học hình sự Việt Nam, từ sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 tới nay tuy có nhiều cách hiểu khác nhau. Đôi lúc “án treo” còn được hiểu là “tạm đình chỉ việc thi hành án” hoặc là một biện pháp “hoãn hình phạt tù có điều kiện” hay “biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng án treo chưa bao giờ được coi là hình phạt trong hệ thống hình phạt ở nước ta.

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chế định án treo. Theo tác giả Đinh Văn Quế, nguyên Chánh tòa Hình sự – Tòa án nhân dân tối cao thì: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá 03 năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”.

“Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định”.

Theo cuốn từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp có viết: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”.

Theo khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự”.

Theo Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”.

Kết luận: Chúng tôi đưa ra quan điểm về chế định án treo như sau:

“Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng cho người bị kết án phạt tù không quá ba năm, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù khi có đầy đủ những căn cứ và điều kiện nhất định do pháp luật hình sự quy định nhằm khuyến khích họ cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng cảnh cáo họ là nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành hình phạt tù được hưởng án treo của bản án trước đó”.

LS TRẦN MINH HÙNG


Hình ảnh văn phòng bào chữa