Luận cứ bào chữa vụ giả mạo trong công tác

ĐOÀN LUẬT SƯ TP. HỒ CHÍ MINH
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIA ĐÌNH
Số: … /2026/LC-VPLS GĐ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
 
BẢN LUẬN CỨ BÀO CHỮA
(Vv: Bị cáo …………….. bị truy tố về tội “Giả mạo trong công tác” theo khoản 4 điều Điều 359 Bộ luật Hình sự 2015 với vai trò giúp sức)
 
Kính thưa:
  • Hội đồng xét xử;
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân;
  • Quý Luật sư đồng nghiệp và toàn thể Quý vị.
 
Chúng tôi, Luật sư Trần Minh Hùng, Luật sư Lê Văn Thông, Luật sư Trần Tấn Hưng -Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Gia Đình, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh tham gia vụ án với tư cách là Người bào chữa cho bị cáo………………... bị Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao truy tố về tội “Giả mạo trong công tác” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 359 Bộ luật Hình sự theo Cáo trạng số 3162/CT-VKSTC-V1 (“Cáo trạng số 3162”) ngày 24/12/2025.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, phần xét hỏi và diễn biến phiên tòa, chúng tôi đưa ra một số luận cứ bào chữa cho bị cáo Trần Công Sơn, như sau:
  1. VỀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HÀNH VI PHẠM TỘI
Công ty TNHH Vinaucare (“Công ty Vinaucare”) có mã số thuế 0314406829 trụ sở tại Tầng 5, Tòa nhà số 514A, đường Lê Trọng Tấn, phường Tây Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào năm 2017 do ông Trần Công Hải (anh trai bị cáo Trần Công Sơn) làm Giám đốc, người đại diện theo pháp luật. Công ty Vinaucare kinh doanh chính trong lĩnh vực tư vấn các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, như: Đăng ký thành lập doanh nghiệp, Tư vấn hỗ trợ xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm; Tư vấn hỗ trợ xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự dịch vụ công bố sản phẩm, vv.
Trong tổ chức hoạt động của Công ty Vinaucare, bị cáo Trần Công Sơn được phân công làm Phó Giám đốc phụ trách dịch vụ công bố sản phẩm của công ty. Nhận biết được điều này, nhân viên của Công ty TNHH Khoa học TSL (ông Trần Minh Tâm, bà Nguyễn Thị Hồng Nghi, bà Bùi Thị Mỹ Hoa) và nhân viên của Công ty Cổ phần khoa học công nghệ Avatek (bà Đinh Thị Tuyết Phương) đã nhiều lần chủ động liên hệ, cung cấp thông tin về việc Công ty TNHH Khoa học TSL (“Công ty TSL”) và Công ty Cổ phần khoa học công nghệ Avatek (“Công ty Avatek”) có chính sách hỗ trợ làm Phiếu kết quả thử nghiệm trả kết quả nhanh (khách hàng chỉ cần đưa thông tin yêu cầu thử nghiệm mà không cần gửi mẫu thử nghiệm) để bị cáo Trần Công Sơn cung cấp thông tin, giới thiệu khách hàng có nhu cầu.
Trong quá trình Công ty Vinaucare cung cấp dịch vụ, khi khách hàng gặp vướng mắc trong việc làm Phiếu kết quả thử nghiệm hoặc có nhu cầu kiểm nghiệm nhanh (không cần gửi mẫu sản phẩm hoặc có gửi mẫu nhưng kiểm nghiệm nhanh); nhằm mục đích muốn tháo gỡ vướng mắc, giúp khách hàng hoàn thiện hồ sơ và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục, bị cáo Trần Công Sơn đã liên hệ các nhân viên của Công ty TSL, Công ty Avatek nêu trên để làm Phiếu kết quả thử nghiệm. Tuy nhiên, bị cáo không tham gia vào quy trình (nội bộ) cấp Phiếu kết quả thử nghiệm của Công ty TSL, Công ty Avatek. Khi thực hiện hành vi, bị cáo không nhận thức được hành vi của mình đang vi phạm pháp luật hình sự, chỉ xem đây là một dịch vụ hỗ trợ thủ tục hành chính không được thực hiện theo đúng thủ tục hành chính thông thường.
Sau khi được Cơ quan Cảnh sát Điều tra (CSĐT) giải thích, phân tích về quy định pháp luật, bị cáo Trần Công Sơn mới nhận thức rõ tính chất sai phạm của hành vi. Nhờ đó, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với Cơ quan CSĐT để sớm giải quyết vụ án. Đồng thời, bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả số tiền là 281.471.700 đồng do mình gây ra.
Từ các nội dung trên, chúng tôi cho rằng, hành vi phạm tội của bị cáo ……………….. phát sinh chủ yếu do bị tác động từ nhân viên Công ty TSL, Công ty Avatek. Đồng thời, nhận thức pháp luật của bị cáo còn hạn chế dẫn đến không lường hết được hậu quả pháp lý của hành vi.
  1. CĂN CỨ ĐỀ NGHỊ GIẢM NHẸ KHUNG HÌNH PHẠT
  1. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo Trần Công Sơn
Qua nghiên cứu hồ sơ và theo dõi diễn biến phiên tòa, chúng tôi đồng tình với quan điểm của Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao tại trang 93 phần Kết luận của Cáo trạng số 3162, áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trọng yếu tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (“BLHS”) đối với bị cáo Trần Công Sơn, cụ thể: “Áp dụng các tình tiết: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả"; "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải", theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS, đối với các bị can: Lê Đại Dương, Nguyễn Mai Thùy Trang, Trần Công Sơn,[…]. Để Hội đồng xét xử có góc nhìn toàn diện hơn về thái độ của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ khác chưa được ghi nhận được đầy đủ trong quá trình điều tra, chúng tôi xin trình bày chi tiết hơn về các tình tiết xin giảm nhẹ, như sau:
  1. Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Trong giai đoạn điều tra, bị cáo ………………. thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với Cơ quan CSĐT giải quyết vụ án, cụ thể tại Biên bản hỏi cung bị can ngày 25/09/2025, khi được Điều tra viên hỏi: “Bị can có suy nghĩ gì về việc làm của mình? Bị can có trình bày thêm nội dung gì không? Bị can cam đoan như thế nào về lời khai của mình?”; bị cáo Trần Công Sơn, đáp: “Tôi đã nhận thức được hành vi trao đổi, thống nhất với nhân viên Công ty TSL, gửi các thông tin, chỉ tiêu kiểm nghiệm nhưng không giám sát Công ty TSL để làm Phiếu kết quả thử nghiệm giả là không đúng quy định pháp luật. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, tôi đã thành khẩn khai báo. Kính mong Cơ quan điều tra xem xét trách nhiệm của tôi, cho tôi được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.” (BL 1091262 – BL 1091263). Ngoài ra, sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải bị cáo tiếp tục được thể hiện tại các phiên tòa.
Vì vậy, hành động thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của bị cáo ……………….. không chỉ là bản thân bị cáo cảm nhận mà đã được Cơ quan CSĐT và Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao xác định, nên việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” cho bị cáo là hoàn toàn hợp lý.
  1. Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS.
Sau khi bị khởi tố, tạm giam, truy tố bị cáo Trần Công Sơn luôn thể hiện thái độ ăn năn, hối hận sâu sắc, nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật của mình và mong muốn được chủ động khắc phục toàn bộ hậu quả. Bị cáo đã nhờ gia đình vay, mượn tiền để khắc phục hậu quả, nộp lại số tiền do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cụ thể:
Ngày 10/11/2025, theo đề nghị của bị cáo Trần Công Sơn, gia đình đã khắc phục hậu quả bằng việc nộp thay cho bị cáo số tiền 7.509.000 đồng vào tài khoản số 39400905326200000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, mở tại Kho bạc Nhà nước Khu vực I – Phòng giao dịch số 9, thông qua Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank). Việc khắc phục hậu quả nêu trên đã được Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao ghi nhận tại mục mô tả hành vi phạm tội (mục 1.2, khoản 7) của Cáo trạng số 3162, cụ thể: “Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 3/2025, Trần Công Sơn đã liên hệ làm giả 2.062 Phiếu kết quả thử nghiệm (1.764 Phiếu của Công ty TSL, 298 Phiếu của Công ty Avatek), thu lợi bất chính số tiền 281.471.700 đồng (gồm 277.271.700 đồng là tiền chiết khấu phí kiểm nghiệm; 4.200.000 đồng là tiền dịch vụ hồ sơ tự công bố sản phẩm). Sơn đã nộp 7.509.000 đồng tiền thu lợi bất chính”.
Ngày 07/01/2026, bị cáo Trần Công Sơn đã nhờ gia đình vay mượn, thu xếp từ nhiều nguồn hợp pháp và đã nộp đủ số tiền còn lại là 273.962.700 đồng nhằm khắc phục toàn bộ hậu quả còn lại do hành vi của bị cáo gây ra (căn cứ Đơn xin khắc phục hậu quả và Biên lai thu tiền số 0000225 ngày 08/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Như vậy, bị cáo Trần Công Sơn đã chủ động khắc phục toàn bộ hậu quả số tiền là 281.471.700 đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, thể hiện ý thức trách nhiệm cao của bị cáo đối với hành vi vi phạm, đồng thời cho thấy hậu quả của bị cáo đã được xử lý triệt để, không còn gây ảnh hưởng tiêu cực kéo dài đến xã hội, trật tự quản lý hành chính hay quyền lợi của các tổ chức, cá nhân liên quan.
  1. Người phạm tội có nhân thân tốt và phạm tội lần đầu
Bị cáo Trần Công Sơn sinh ra trong một gia đình có hoàn cảnh không may mắn, cha bị cáo mất sớm (năm 1999) khi bị cáo mới 5 tuổi, một mình mẹ bị cáo phải nuôi 6 anh chị em. Trong một gia đình đông con, lại thiếu vắng trụ cột chính, ranh giới giữa việc trở thành một công dân tốt và một kẻ lầm đường lạc lối là rất mong manh. Tuy nhiên, nhìn vào hồ sơ học tập của bị cáo Trần Công Sơn có một lộ trình phát triển rất lành mạnh và đáng ghi nhận. Từ năm 2004 đến 2011, khi học tập tại Trường TH Vinh Xuân, Trường THCS Vinh Thanh, Trường THPT Vinh Xuân bị cáo liên tục đạt danh hiệu Học sinh Tiên tiến và có thành tích xuất sắc trong hoạt động của trường. Điều này chứng minh bị cáo được gia đình giáo dục nghiêm khắc và bản thân luôn có ý thức tự giác, cầu tiến. Một người có quá trình rèn luyện đạo đức học đường liên tục trong 7-8 năm như vậy không thể là người có bản chất coi thường pháp luật hay có khuynh hướng bạo lực, gian manh.
Bên cạnh quá trình học tập, rèn luyện nghiêm túc của bản thân bị cáo, cần xem xét thêm yếu tố môi trường gia đình và sự giáo dục, định hướng từ những người thân ruột thịt. Cụ thể, anh trai ruột của bị cáo Trần Công Sơn là ông Trần Công Hải đã được Nhà nước tặng Bằng khen vì có nhiều năm phục vụ liên tục trong lực lượng Công an nhân dân, có thành tích trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự và bảo vệ Tổ quốc (Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba do Chủ tịch nước trao tặng). Đây là minh chứng cho thấy gia đình bị cáo có truyền thống chấp hành pháp luật, đề cao các giá trị đạo đức, kỷ cương và trách nhiệm xã hội.
Về ý thức trách nhiệm với xã hội, trong khoảng thời gian dài (trước khi xảy ra vụ án), bị cáo Trần Công Sơn đã tham gia dự án “Nuôi Em”. Trong 02 năm 2022 và 2023, bị cáo đã tự nguyện trích kinh phí cá nhân để nhận nuôi dưỡng 04 em nhỏ (Pơ Loong Thị An Nhiên, Viên Thị Tiểu Nhi, Nguyễn A Kơ Thị Nga, Hồ Văn Cu Lép) có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại vùng cao. Việc bị cáo quan tâm đến những số phận kém may mắn trong xã hội cho thấy bị cáo là người có tâm hồn hướng thiện, biết chia sẻ và có trách nhiệm với cộng đồng. Đây không phải là hành động đối phó để xin giảm nhẹ, mà là một quá trình thiện nguyện kéo dài trước khi vụ án xảy ra.
Bên cạnh đó, bị cáo Trần Công Sơn không chỉ giữ tấm lòng nhân ái cho riêng bản thân mình mà còn lan tỏa tư tưởng, lối sống tích cực trở thành văn hóa của Công ty Vinaucare. Trong thời điểm đồng bào miền Bắc đang gánh chịu hậu quả nặng nề từ cơn bãoYagi (tháng 9/2024), bị cáo đã đề nghị Công ty Vinaucare trích số tiền 10.000.000 VND để ủng hộ thông qua Ban Cứu trợ Trung ương - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Căn cứ Chứng từ giao dịch ngân hàng số Số CT: 110924.5136.081272 ngày 11/09/2024 tại Vietcombank, Sao kê tài khoản doanh nghiệp của Công ty Vinaucare, Thông tin tiếp nhận cứu trợ của Ban Cứu trợ Trung ương - MTTQ Việt Nam).
Ngoài ra, thư cảm ơn của Ủy ban nhân dân phường An Hòa về việc Công ty TNHH Vinaucare (do bị cáo Trần Công Sơn chủ trì) ủng hộ nguồn lực tổ chức Đêm hội “Vầng trăng tháng Tám” năm 2022 là một trong những minh chứng rõ nhất cho việc bị cáo luôn gương mẫu, tích cực tham gia các phong trào tại nơi cư trú, được chính quyền địa phương và hàng xóm láng giềng tín nhiệm.
Từ các tình tiết về nhân thân cũng như ý thức, trách nhiệm của bị cáo Trần Công Sơn đối với xã hội cho thấy bị cáo là người luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không có hành vi vi phạm nào bị xử lý hành chính hay hình sự; chưa từng có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu tiên bị cáo vi phạm pháp luật hình sự. Bị cáo vướng vào vụ án này là hành vi bột phát, mang tính nhất thời, không phản ánh bản chất con người hay lối sống của bị cáo. Các tình tiết nêu trên cũng được Cơ quan CSĐT ghi nhận tại trang 96 Kết luận điều tra số 68/KLĐT-VPCQCSĐT-P3 ngày 16/12/2025 của Bộ Công an, cụ thể: “(51) […]. Hành vi của Trần Công Sơn có đủ yếu tố cấu thành tội “Giả mạo trong công tác” quy định tại khoản 4 Điều 359 Bộ luật hình sự, với vai trò đồng phạm giúp sức cho lãnh đạo Công ty TSL và Công ty Avatek thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, bị can Trần Công Sơn phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Bị can đã tự nguyện nộp 7.509.000 đồng vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả. Cần xem xét khi lượng hình”.
  1. Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS
Trên cơ sở nội dung vụ án và hành vi, thái độ của bị cáo Trần Công Sơn, việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, cụ thể:
Bị cáo Trần Công Sơn đã hợp tác tích cực, liên tục và chủ động với cơ quan CSĐT ngay từ giai đoạn đầu. Bị cáo đã tự nguyện khai báo toàn bộ sự thật về hành vi phạm tội của mình một cách trung thực, rõ ràng, đầy đủ, không che giấu, không đổ lỗi. Việc khai báo thành khẩn này đã giúp làm sáng tỏ nhanh chóng các tình tiết, diễn biến của vụ án, rút ngắn đáng kể thời gian điều tra.
Bên cạnh đó, không dừng lại ở việc khai báo về bản thân bị cáo Trần Công Sơn còn cung cấp các thông tin, manh mối quan trọng, có giá trị. Những thông tin này đã trực tiếp hỗ trợ cơ quan CSĐT trong việc phát hiện, thu thập chứng cứ then chốt liên quan đến vụ án, góp phần xác định rõ tính chất, mức độ thiệt hại cũng như vai trò của các đối tượng liên quan. Hành vi này thể hiện rõ sự hợp tác thực chất, mang lại hiệu quả thiết thực cho công tác điều tra.
Ngoài ra, thái độ hợp tác của bị cáo Trần Công Sơn là xuyên suốt, nhất quán và được ghi nhận qua các biên bản, lời khai trong hồ sơ. Từ giai đoạn điều tra cho đến tại phiên tòa hôm nay, bị cáo luôn giữ thái độ thành khẩn, ăn năn và tôn trọng sự thật. Sự hợp tác đó không chỉ là lời nói mà đã được chứng minh bằng hành vi cụ thể và được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận.
Do đó, hành vi của bị cáo hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện của tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án”. Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ này là có căn cứ pháp lý, đảm bảo tính công bằng, khuyến khích sự hối cải và phù hợp với chính sách nhân đạo của pháp luật.
Từ các dẫn chứng nêu trên, sự hối cải, hoàn cảnh đặc biệt và những đóng góp của bị cáo Trần Công Sơn không chỉ thể hiện trong các tình khách quan, tài liệu, chứng cứ có trong vụ án mà đã được Cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận và được xem là các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s, t, i khoản 1 Điều 51 BLHS.
  1. Bị cáo Trần Công Sơn đồng phạm (giúp sức) nhưng vai trò thụ động, không đáng kể đủ điều kiện áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS
Theo Điều 58 BLHS, quy định về Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, quy định:
“Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.”
Căn cứ quy định pháp luật nêu trên, bị cáo Trần Công Sơn chỉ đồng phạm với vai trò “người giúp sức” (không tham gia vào quy trình làm Phiếu kết quả thử nghiệm của Công ty TSL, Công ty Avatek); đồng thời, bị cáo có nhiều hơn 02 tình tiết giảm nhẹ. Do đó, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, kính đề nghị Hội đồng xét xử xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm và các tình tiết giảm nhẹ; cụ thể:
  1. Bị cáo Trần Công Sơn chỉ đồng phạm với vai trò giúp sức thụ động, không phải người khởi xướng
Theo hồ sơ vụ án, vai trò giúp sức của bị cáo Trần Công Sơn không phải là tác động chính dẫn đến động cơ phạm tội của các cá nhân liên quan tại Công ty TSL và Công ty Avatek. Cụ thể, tại trang 8 mục 1.2 Cáo trạng số 3162, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao nhận định về phương thức, thủ đoạn làm giả Phiếu kết quả thử nghiệm tại Công ty TSL: "Từ năm 2020 đến tháng 02/2023, thực hiện chủ trương đã thống nhất với Đoàn Hữu Lượng, Hồ Thị Thanh Phương chỉ đạo Phòng kinh doanh (sale) do Trần Minh Tâm là Trưởng phòng và [.... ] đưa thông tin cho khách hàng về việc Công ty TSL có chính sách hỗ trợ trả kết quả nhanh, khách hàng chỉ cần đưa ra thông tin yêu cầu thử nghiệm mà không cần gửi mẫu thử nghiệm;[....]”. Như vậy, các cá nhân tại Công ty TSL đã bàn bạc thống nhất trước khi thực hiện hành vi phạm tội và chủ động trao đổi với bị cáo Trần Công Sơn cũng như các tổ chức, cá nhân khác để giúp sức thực hiện hành vi phạm tội.
Tương tự, đối với động cơ phạm tội của các cá nhân tại Công ty Avatek tại trang 10 mục 1.2 Cáo trạng số 3162 có nhận định về phương thức, thủ đoạn làm giả Phiếu kết quả thử nghiệm tại Công ty TSL: “[..]. Nhằm thu hút khách hàng và nâng cao lợi nhuận, Hồ Thị Thanh Phương tiếp tục đưa ra chính sách hỗ trợ khách hàng trả kết quả kiểm nghiệm nhanh, kiểm nghiệm không cần lấy mẫu hoặc có thể chỉnh sửa kết quả kiểm nghiệm. Phương giao cho Nguyễn Minh Nhựt, Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh chỉ đạo Phòng kinh doanh (sale) tìm kiếm và trao đổi với khách hàng về chính sách hỗ trợ khách hàng theo chủ trương Phương đưa ra, khách hàng sẽ chuyển thông tin cần kiểm nghiệm cho Phòng chăm sóc khách hàng (sale admin) do Trần Minh Tâm phụ trách […]”.
Ngoài ra, Công ty Vinaucare đã hoạt động từ năm 2017, còn thời điểm hình thành động cơ phạm tội của các cá nhân liên quan tại Công ty TSL và Công ty Avatek chỉ phát sinh từ thời điểm năm 2020. Mặt khác, Công ty Vinaucare cũng như bị cáo Trần Công Sơn hoàn toàn độc lập, bị cáo chỉ cung cấp thông tin và không tham gia vào quy trình cấp Phiếu kết quả thử nghiệm của Công ty TSL, Công ty Avatek.
Như vậy, vai trò của bị cáo Trần Công Sơn chỉ mang tính chất thụ động, bị cáo cũng không phải người khởi xướng, không phải là người chủ động mời gọi, chào bán, quảng cáo hay tổ chức các hành vi vi phạm, không xây dựng mô hình, không lập kế hoạch, không chủ trương kinh doanh trái pháp luật, mà chỉ bị động tiếp nhận thắc mắc từ khách hàng.
  1. Bị cáo Trần Công Sơn giúp sức nhưng không đáng kể
Theo trang 43, Cáo trạng số 3162, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao có nhận định: “(50) Trần Công Sơn đã liên hệ làm giả 2.062 Phiếu kết quả thử nghiệm, thu lợi bất chính số tiền 281.471.700 đồng, […]”. Tuy nhiên, Tổng số Phiếu kết quả thử nghiệm và Tổng số tiền thu lợi là kết quả từ tháng 06/2021 đến tháng 03/2025 (hơn 04 năm). Do đó, chỉ dựa vào số liệu sẽ không đánh giá đầy đủ, khách quan mức độ, hành vi của bị cáo Trần Công Sơn.   
Về số tiền thu lợi bất chính, tổng số tiền thu lợi bất chính của Công ty TSL và Công ty Avatek là 200.757.561.103 đồng; trong khi đó, số tiền bị cáo Trần Công Sơn thu lợi bất chính là 281.471.700 đồng (đã khắc phục toàn bộ hậu quả). Qua đó, có thể thấy, bị cáo đóng vai trò rất nhỏ (chiếm tỉ lệ 0,14%) trong việc giúp sức các cá nhân tại Công ty TSL và Công ty Avatek thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, số tiền thu lợi bất chính 281.471.700 đồng là số liệu thống kê trong một khoảng thời gian rất dài (hơn 04 năm). Thực tế, bị cáo chỉ nhận được lợi ích (chiết khấu/hoa hồng) trung bình chỉ khoảng 136.504 đồng/ Phiếu. Đây cũng chính là nguyên nhân bị cáo không nhận thức đầy đủ hành vi của mình đã vi phạm quy định của pháp luật hình sự.
Ngoài ra, hành vi “Giả mạo trong công tác” không chỉ xuất phát các cá nhân mà còn các bất cập của quy định pháp luật hiện hành. Cụ thể, tại trang 120 - 121, Kết luận điều tra số 68/KLĐT-VPCQCSĐT-P3 ngày 16/12/2025 của Bộ Công an, có nêu thực trạng về cơ chế hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước: “... Những hành vi “Giả mạo trong công tác” xảy ra trong vụ án không đơn thuần là hành vi lệch chuẩn của một vài cá nhân, mà phản ánh vấn đề mang tính hệ thống, cần được khắc phục bằng các giải pháp pháp lý và tổ chức lại quy trình quản lý". Vì vậy, khi xem xét đến hành vi phạm tội của bị cáo Trần Công Sơn, kính mong Hội đồng xét xử xem xét động cơ của bị cáo trong bối cảnh thời điểm quy định pháp luật đang còn nhiều bất cập, và trong từng lần thực hiện hành vi cụ thể (bị cáo hưởng lợi chỉ hơn 100.000 đồng/Phiếu trong bối cảnh đó bị cáo đã không ý thức được hành vi của bản thân đã vi phạm pháp luật hình sự).
  1. Đề nghị áp dụng chính sách khoan hồng đối với bị cáo Trần Công Sơn
    1. Điều kiện áp dụng khung hình phạt mức thấp nhất
Theo Điều 54 BLHS, quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, như sau:
1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.”
2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.”
Như đã trình bày tại mục 1, Phần 2, ngoài các tình tiết giảm nhẹ (i) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; (ii) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS; (iii) Người phạm tội có nhân thân tốt và phạm tội lần đầu đã được cơ quan CSĐT ghi nhận, thì bị cáo Trần Công Sơn còn có tình tiết giảm nhẹ (iv) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS.
Ngoài ra, bị cáo Trần Công Sơn chỉ là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể đáp ứng đủ điều để Tòa án quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.
Như vậy, khoản 3 Điều 54 BLHS quy định Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn khi đáp ứng đủ điều kiện theo khoản 1 hoặc khoản 2 nêu trên. Đối với trường hợp của bị cáo Trần Công Sơn đã đáp ứng đồng thời cả 2 điều kiện để áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt. Do đó, Tòa án có quyền quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đang bị truy tố tại điểm a khoản 4 Điều 359 BLHS.
Về việc áp dụng tình tiết "phạm tội 02 lần trở lên" theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo Trần Công Sơn là không phù hợp. Bởi, theo khoản 2 Điều 52 BLHS quy định: “Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”. Do đó, Tổng số Phiếu kết quả thử nghiệm được bị cáo Trần Công Sơn (kết quả của các lần thực hiện hành vi) đã dùng để làm căn cứ, cơ sở để định khung hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 359 BLHS thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
Như vậy, bị cáo Trần Công Sơn phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể đủ điều kiện để áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt đang bị áp dụng (điểm a khoản 4 Điều 359 BLHS). Ngoài ra, bị cáo Trần Công Sơn có các tình tiết xin giảm nhẹ đáp ứng điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS. Do đó, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
  1.  Về nhân thân và khả năng cải tạo bị cáo Trần Công Sơn
Bị cáo Trần Công Sơn phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, trước khi vụ án xảy ra luôn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không thuộc trường hợp đang bị xử lý hành chính hay áp dụng biện pháp xử lý khác. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng, thể hiện ý thức tiếp thu và sửa chữa sai lầm. Các yếu tố này cho thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội.
Hiện nay, tình trạng sức khỏe của bị cáo không được tốt, cần được theo dõi và điều trị thường xuyên. Đây là yếu tố thực tế cần được xem xét khi quyết định hình phạt, nhằm bảo đảm tính nhân đạo và phù hợp với chính sách hình sự khoan hồng.
Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định tại số 69/38 đường Số 3, Khu phố 14, phường Bình Hưng Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, bảo đảm điều kiện cho việc giám sát, giáo dục theo quy định nếu được áp dụng biện pháp xử lý nhẹ hơn.
  1. ĐỀ NGHỊ
Qua phân tích lập luận ở trên, cũng như căn cứ theo các quy định của pháp luật, Luật sư chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Trần Công Sơn được hưởng án treo.
Kính mong Hội đồng xét chấp thuận!
Trân trọng!
NGƯỜI BÀO CHỮA
 
 
 
Ls. Trần Minh Hùng

Hình ảnh văn phòng bào chữa