Luật sư chuyên tư vấn bào chữa tội làm hàng giả, hàng nhái

Hàng giả được sản xuất tràn lan hiện nay, giống như hàng thật về mọi mặt khiến người tiêu dùng rất khó phân biệt thật giả. Hệ lụy của hàng giả ngày càng xuất hiện tràn lan trên thị trường làm ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân, trật tự xã hội, an ninh quốc phòng, doanh nghiệp kinh doanh hợp pháp, đặc biệt là ảnh hưởng đến lòng tin người tiêu dùng.

Phòng chống hành vi sản xuất buôn bán hàng giả là nhiệm vụ không chỉ của Nhà nước mà còn là nhiệm vụ của toàn xã hội. BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội sản xuất, buôn bán hàng giả tại Điều 192. Vậy, tội sản xuất buôn bán hàng giả được quy định như thế nào? Sau đây, Luật Duy Hưng xin gửi tới bạn đọc quy định của pháp luật về tội danh này và cấu thành tội phạm tội này để bạn đọc tham khảo.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được quy định tại Điều 1992 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) như sau:

1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194 và 195 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng hoặc dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

e) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

g) Làm chết người;

h) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

i) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

k) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

l) Buôn bán qua biên giới;

m) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;

c) Làm chết 02 người trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;

đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;*

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, đ, e, g, h, i, k, l và m khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;*

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

GIẢI THÍCH KHÁI NIỆM

a/ Hàng giả là gì?

Căn cứ Nghị định số 140-HĐBT ngày 25/4/1991 Quy định về kiểm tra, xử lý việc sản xuất, buôn bán hàng giả, Điều 3 lý giải “Hàng giả” là “những sản phẩm, hàng hóa được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hóa được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hóa không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.”

b/ Hành vi sản xuất hàng giả là gì?

Sản xuất hàng giả là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả hoạt động chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng giả.

c/ Hành vi buôn bán hàng giả là gì?

Buôn bán hàng giả là là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chào hàng, bày bán, giới thiệu, quảng cáo, khuyến mại, lưu trữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu và hoạt động khác đưa hàng giả vào lưu thông.

CẤU THÀNH TỘI PHẠM

Khách thể của tội phạm

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự của nền sản xuất hàng hóa, làm mất sự ổn định của thị trường, xâm hại lợi ích và sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng.

Đối tượng tác động của tội phạm này là hàng giả (trừ các loại hàng giả thuộc phạm vi quy định Điều 193, Điều 194 và Điều 195 BLHS bao gồm hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú ý, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi).

Mặt khách quan của tội phạm

a/ Hành vi của tội phạm

Thể hiện bằng hành vi “sản xuất hàng giả” hoặc hành vi “buôn bán hàng giả”.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được coi là hoàn thành khi hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa là hàng giả được diễn ra.

b/ Hậu quả của tội phạm

Hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.

Hậu quả hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thường thấy là những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho xã hội và kinh tế như:

– Đối với xã hội: Tội phạm gây ra hậu quả phức tạp và nặng nề về mặt đạo đức, xã hội khi hàng giả được sản xuất như hàng thật nhưng chất lượng và giá trị rẻ hơn, đánh vào sự kém hiểu biết và ham rẻ của người dân Việt Nam. Điều này mang đến những hệ lụy tiêu cực về tư tưởng, đạo đức, lối sống cho mỗi người dân.

– Đối với kinh tế: Tội phạm làm nhũng loạn thị trường kinh tế, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư trong nước và ngoài để phát triển kinh tế – xã hội. Nó khiến cho giá trị sản phẩm chung bị suy giảm nặng nề gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chân chính. Lâu dài có thể khiến nền kinh tế đi xuống, khó phát triển.

Mặt chủ quan của tội phạm

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện do lỗi cố ý (trực tiếp).  Người phạm tội nhận thức được hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, lường trước được hậu quả xảy ra và muốn hậu quả xảy ra.

Mục đích phạm tội là nhằm lừa dối người tiêu dùng và thu lợi bất chính với động cơ vụ lợi.

Chủ thể của tội phạm

Chủ thể tội phạm này là người có năng lực TNHS và từ đủ 16 tuổi trở lên ( theo khoản 1 Điều 12 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung 2017). Pháp nhân thương mại cũng là chủ thể của tội phạm này.

HÌNH PHẠT TỘI PHẠM

Hình phạt đối với cá nhân:

Cá nhân phạm tội sẽ bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu có một trong các tình tiết tăng nặng tại Khoản 2 hoặc Khoản 3, mức phạt tù có thể lên đến 15 năm tù.

Ngoài ra, cá nhân phạm tội có thể sẽ phải chịu các hình phạt bổ sung như phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hình phạt đối với Pháp nhân thương mại:

Pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu mức hình phạt là phạt tiền lên đến 9.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 BLHS 2015.

Ngoài ra, pháp nhân thương mại phạm tội có thể phải chịu các hình phạt bổ sung như phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Người phạm tội làm hàng giả, hàng nhái có thể được hưởng án treo nếu hình phạt tù tuyên phạt từ 03 năm trở xuống và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Các điều kiện bắt buộc để được xem xét hưởng án treo bao gồm: 
  • Có nhân thân tốt (ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng pháp luật).
  • Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên (trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo).
  • Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, chính quyền địa phương giám sát, giáo dục.
  • Tòa án xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội mà vẫn có khả năng tự cải tạo.
Tuy nhiên, cần lưu ý:
  • Tùy thuộc vào quy mô, tính chất vụ án: Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả (theo Điều 192, 193 Bộ luật Hình sự) có nhiều khung hình phạt khác nhau. Nếu phạm tội ở các khung hình phạt nặng (ví dụ: hàng giả có giá trị lớn, thu lợi bất chính cao, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng) thì mức án sẽ rất cao, vượt quá giới hạn 03 năm tù và không đủ điều kiện hưởng án treo.
  • Án treo không phải là một hình phạt nhẹ hơn, mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Người được hưởng án treo vẫn phải chịu thời gian thử thách và tuân thủ các nghĩa vụ giám sát tại địa phương.
Để đánh giá chính xác khả năng được hưởng án treo cho từng trường hợp cụ thể, bạn cần căn cứ vào hồ sơ vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Bạn có thể tham khảo chi tiết các điều kiện tại văn bản quy định của Tòa án hướng dẫn về án treo tại cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Tối cao.

LS TRẦN MINH HÙNG