Quyền lợi của bị hại trong vụ án hình sự thế nào?

XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ: SAI LẦM NHỎ, HỆ LỤY LỚN!

Trong vụ án hình sự, việc xác định thiệt hại xảy ra là vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với những vụ án kinh tế tham nhũng hay liên quan đến tội phạm có chức vụ, quyền hạn. Xác định thiệt hại là yếu tố then chốt để đảm bảo sự công bằng và chính xác trong việc xét xử, thiệt hại không chỉ phản ánh mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, mà còn là căn cứ quan trọng để xác định mức độ trách nhiệm hình sự của bị cáo và khung hình phạt tương ứng. Trong bài viết này, đội ngũ luật sư IPIC xin được chia sẻ đến quý độc giả một tình huống pháp lý thực tế liên quan đến việc xác định chính xác thiệt hại xảy ra, nhằm bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của bị can, bị cáo trong 1 vụ án mới nhất về tội phạm có chức vụ Nhà nước.

Quy định pháp luật

Trong pháp luật hình sự, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cách xác định thiệt hại không được quy định cụ thể mà tuỳ vào hành vi phạm tội, khách thể bị tội phạm xâm phạm, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ có những phương hướng tiếp cận về xác định thiệt hại cũng khác nhau.

Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chỉ quy định chung chung về xác định thiệt hại, chỉ dừng lại ở việc liệt kê các thiệt hại được bồi thường, theo đó, thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm: Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;  Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; Thiệt hại khác do luật quy định.

Tình huống pháp lý thực tế

Vụ án chúng tôi đang tiến hành xử lý liên quan đến hành vi của bị can là cán bộ Nhà nước có hành vi phạm tội khi thi hành công vụ dẫn đến cho phép một trung tâm đào tạo lái xe không đủ điều kiện và không tiến hành đào tạo dạy nghề nhưng vẫn đề xuất để được cấp giấy phép lái xe trái quy định pháp luật cho học viên. Theo Kết luận điều tra, xác định thiệt hại gây ra bao gồm học phí của học viên được cấp giấy phép lái xe trái quy định lên tới hàng trăm tỷ đồng.

Tại Điều 356. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Như vậy, nếu thiệt hại về tài sản ở mức dưới 200 triệu đồng, bị can có thể đối mặt với mức án cải tạo không giam giữ hoặc tù từ 1 đến 5 năm. Tuy nhiên, khi thiệt hại tăng lên, mức độ hình phạt cũng gia tăng tương ứng, với mức án từ 5 đến 10 năm, thậm chí lên đến 15 năm tù nếu thiệt hại vượt qua 1 tỷ đồng.

Điều này làm chúng tôi vô cùng trăn trở vì khoản lợi mà bị can này nhận được từ trung tâm lái xe trong vụ án chỉ là ba chục triệu đồng, con số quá nhỏ so với thiệt hại mà cơ quan điều tra kết luận. Chính vì thiệt hại được ghi nhận lên tới hàng trăm tỷ đồng, tại Kết luận điều tra, hành vi của bị cáo bị kết tội theo Khoản 3 Điều 356 BLHS.

Tư duy pháp lý của luật sư

Từ những trăn trở ấy, luật sư tiến hành nghiên cứu làm rõ “thiệt hại” tại Kết luận điều tra có thực sự xác đáng hay không. Chúng tôi đã nhận ra một điểm quan trọng mà tại Kết luận điều tra không ghi nhận, đó chính là lỗi của các bên đối với “thiệt hại” xảy ra.

Theo Bộ luật dân sự, thiệt hại xảy ra khi có lỗi của bên gây thiệt hại. Đồng thời, “Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình.”

Trong trường hợp này, lỗi không chỉ thuộc về trung tâm đào tạo lái xe mà chính những học viên cũng có lỗi khi biết trung tâm không tổ chức đào tạo, không thực hiện hoạt động dạy và học nhưng vẫn được cấp chứng chỉ. Như vậy, đã xảy ra sự thỏa thuận giữa người dạy và người học về việc “học giả bằng thật”. Theo đó, số tiền học phí là số tiền thu lợi bất chính khi có sự đồng thuận giữa người học và học viên nên không được xem là số tiền thiệt hại của vụ án. Vì học viên biết rõ việc học không đúng quy định pháp luật nên học viên phải xác định là người có quyền nghĩa vụ liên quan chứ không phải là bị hại.

Luật sư đang tiến hành kiến nghị cơ quan điều tra xem xét lại vấn đề xác định thiệt hại này của vụ án, trường hợp kiến nghị thành công, hành vi của bị can sẽ được chuyển từ khoản 3 xuống khoản 1, tương ứng khung hình phạt chuyển từ 10 đến 15 năm từ giam xuống cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, cùng với kiến nghị về áp dụng thêm những tình tiết giảm nhẹ, mong rằng sẽ có những kết quả khả quan nhất đối với bị can.

Kết luận: Qua ví dụ trong vụ án này, chúng ta thấy rõ rằng sự chính xác trong việc đánh giá thiệt hại là yếu tố quyết định đến việc áp dụng khung hình phạt phù hợp. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc xác định thiệt hại cần phải được xem xét một cách toàn diện, với sự cân nhắc kỹ lưỡng về lỗi của các bên liên quan, không chỉ của bị can mà còn của những đối tượng có sự đồng thuận trong hành vi vi phạm pháp luật. Từ đó, chúng ta có thể đảm bảo rằng mỗi vụ án được xét xử công bằng, đúng đắn và thấu tình đạt lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tất cả các bên.
 

Bị hại là ai?
Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

(Khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015)

Quyền và nghĩa vụ của bị hại trong tố tụng hình sự
(1) Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:

- Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của mình;

- Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

- Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

- Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;

- Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;

- Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

- Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;

- Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;

- Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

- Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định;

- Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;

- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;

- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.

(2) Bị hại có nghĩa vụ:

- Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;

- Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định trên.

Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định trên.

(Khoản 3, 4 và 5 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015)

Những trường hợp chỉ khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
Căn cứ Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự 2021) thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 Bộ luật Hình sự 2015 khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

LS TRẦN MINH HÙNG
 


Hình ảnh văn phòng bào chữa