Tin tức mới

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".
Như vậy, trong trường hợp bạn chứng minh được chồng mình ngoại tình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống hôn nhân của cả hai vợ chồng dẫn đến việc không thể tiếp tục chung sống thì bạn có quyền làm đơn yêu cầu toà án giải quyết ly hôn theo thủ tục pháp luật quy định.
Trong quá trình yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, trường hợp bạn có nhu cầu chia tài sản chung vợ chồng là căn nhà có thể tự thoả thuận hoặc yêu cầu toà án chia tài sản chung vợ chồng. Theo đó, căn cứ xác định tài sản chung vợ chồng được quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như sau:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Người lập di chúc có năng lực hành vi dân sự.
Di chúc là một hành vi pháp lý đơn phương do vậy nó phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005, một trong số đó là điều kiện: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự”. Năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật, người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, do vậy nếu không mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi thì được phép lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi có quyền lập di chúc nhưng phải thể hiện bằng văn bản và được sự đồng ý của người giám hộ. “Đồng ý” ở đây chưa được giải thích rõ ràng nhưng chúng ta có thể hiểu là “đồng ý việc lập di chúc” mà không phải là “đồng ý nội dung của di chúc” vì về nguyên tắc, di chúc được giữ bí mật cho tới khi người lập di chúc chết. Như vậy, di chúc miệng chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
“ Tự nguyện” là một dấu hiệu bắt buộc đối với bất cứ một giao dịch dân sự nào và di chúc cũng không ngoại lệ. Tự nguyện trong khoa học pháp lý được xem xét trên cả hai phương diện: ý chí và lý trí. Về ý chí, người lập di chúc nhận thức được hành vi cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện. Điều này có nghĩa là tại thời điểm lập di chúc, người lập di chúc phải hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, và hoàn toàn tự nguyện trong việc thể hiện ý chí của mình. Di chúc được lập trong trường hợp người để lại di chúc thiếu minh mẫn, sáng suốt do mắc bệnh, say rượu, bia hoặc bị lừa dối, đe dọa, cưỡng bức đều có thể bị tuyên vô hiệu. Về lý trí, người lập di chúc phải có mong muốn xác lập di chúc thông qua việc phản ánh ý chí của mình vào nội dung bản di chúc.
– Hành vi vi phạm hành chính không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này, đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền nhưng chưa thực hiện thì tiếp tục thực hiện hoặc cưỡng chế thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (viết tắt là Nghị định số 121/2013/NĐ-CP) và Nghị định số 180/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật xây dựng về xử lý vi phạm trật tự xây dựng đô thị (viết tắt là Nghị định số 180/2007/NĐ-CP).
– Hành vi vi phạm hành chính được quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 5 Nghị định số 180/2007/NĐ-CP, xảy ra sau ngày Nghị định số 180/2007/NĐ-CP có hiệu lực, mà đã kết thúc trước ngày Nghị định này có hiệu lực, đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì xử lý theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP.
– Hành vi vi phạm hành chính được quy định tại khoản 3, khoản 5, khoản 6, điểm b khoản 7 Điều 13 và khoản 2 Điều 70 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, mà đã kết thúc trước ngày Nghị định này có hiệu lực, đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì xử lý theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP.
– Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này, mà đã có quyết định xử lý theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm thì bị xử lý theo quy định tại Điều 15 Nghị định này.
– Không áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp tính theo tỷ lệ giá trị phần xây dựng sai phép, không phép đối với trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ.
– Bộ Xây dựng quy định chi tiết các trường hợp và cách tính số lợi bất hợp pháp đối với công trình, phần công trình xây dựng vi phạm tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này.
Những vụ án tranh chấp liên quan đến đất đai, khi nào xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp thừa kế, tranh chấp nhà ở… Thẩm quyền giải quyết và thời hiệu?
Trả lời Xác định đúng quan hệ pháp luật là để áp dụng đúng pháp luật. Quan hệ pháp luật khác nhau thì pháp luật áp dụng để giải quyết khác nhau, trong đó có vấn đề thời hiệu khởi kiện cũng khác nhau. Ví dụ: cùng là quan hệ được xác lập năm 1995, nếu chỉ là tranh chấp đất thì chỉ áp dụng Luật Đất đai năm 1993, nếu là tranh chấp nhà thì áp dụng Pháp lệnh Nhà ở, nếu là tranh chấp thừa kế thì áp dụng Pháp lệnh Thừa kế. * Về xác định quan hệ pháp luật: Xác định quan hệ pháp luật là căn cứ vào yêu cầu của đương sự (khởi kiện của nguyên đơn , phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có liên quan), cụ thể như sau: - Thứ nhất: Xác định đó chỉ là tranh chấp về quyền sử dụng đất nếu như trên đất đó không có tài sản nào khác, hoặc có tài sản nhưng các bên không có tranh chấp về tài sản đó. - Thứ hai: Xác định là tranh chấp về nhà ở nếu gắn liền với đất đó là nhà ở và có tranh chấp về nhà ở. - Thứ ba: Xác định đó là tranh chấp về thừa kế nếu như việc xác định quyền sử dụng đất đó trên cơ sở pháp luật về thừa kế. - Thứ tư: Xác định là quan hệ hôn nhân và gia đình nếu đất tranh chấp có liên quan đên tài sản chung của vợ chồng . -Thứ năm: Xác định là các quan hệ pháp luật khác khi quyền sử dụng đất gắn với các quan hệ đó, như là quan hệ góp vốn, đầu tư…
1. Xác định tài sản chung
Theo quy định tại Điều 33 và Điều 34 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân như sau:
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
 
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
 
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
 
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
"Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung
 
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng
nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Thông qua những vụ việc tranh chấp chung cư đã được giải quyết hoặc đang trong quá trình giải quyết cho thấy, việc tranh chấp chung cư chỉ được giải quyết khi cả cư dân cùng với chủ đầu tư đều cùng nhìn về một phía, cùng bình tĩnh nói chuyện để giải quyết mọi khúc mắc thì mới có thể giải quyết được toàn bộ vấn đề.
Hiện nay những quy định về pháp lý để xử lý tình trạng tranh chấp chung cư đã được chú ý, nhưng vẫn chưa thực sự đủ chế tài cùng khung pháp lý để xử lý tranh chấp chung cư, khiến việc xử lý tranh chấp chung cư bị chậm trễ, gây hoang mang cho mọi người, thậm chí khi tranh chấp kéo dài còn gây thiệt hại cho tất cả các bên.
Tình trạng tranh chấp chung cư phổ biến nhất chính là sở hữu diện tích chung, trong đó việc phân định diện tích sở hữu chung – riêng dù đã được quy định rõ ràng trong luật nhà nhưng vẫn phát sinh nhiều tranh chấp, trong đó bao gồm tranh chấp tiến độ xây dựng, phí dịch vụ chung cư, chất lượng xây dựng, thu chi và bầu ban quản trị….
Để giải quyết tình trạng này tốt nhất cả ban quản lý nhà chung cư cùng với chủ đầu tư và cư dân đều phải có các buổi họp mặt, đối thoại thẳng thắn để cùng nhau giải quyết đầy đủ các khúc mắc cùng khó khăn của các bên, thong qua đó mọi thông tin đều cần công khai rõ ràng sẽ giúp sự việc giải quyết nhanh chóng và minh bạch.
Tốt nhất trong quản lý chung cư mọi công việc đều cần phải xử lý trên những cam kết và quy định của pháp luật, sáng tỏ mọi đúng sai sẽ giúp giảm thiểu tranh chấp công ty, từ đó bảo vệ tốt được hình ảnh của chủ đầu tư, giữ được mối quan hệ cùng môi trường sống ổn định tốt nhất cho cư dân.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Phòng chống tác tại của rượu bia năm 2019 quy định cấm hành vi xúi giục, kích động, lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu bia.
Việc mời bia được xem như là một văn hóa, lễ nghi khi giao tiếp trong bàn tiệc. Tuy nhiên nhiều trường hợp mời nhậu theo kiểu ép buộc phải uống đến mức không làm chủ được hành vi, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật và nguy hiểm hơn là nhiều người đã có các hành vi coi thường mạng sống của người khác.
Việc chứng minh hành vi xúi giục người khác uống rượu bia chưa có quy định cụ thể. Nếu muốn xử lý có hay không hành vi xúi giục người khác uống rượu bia thì cần phải có người làm chứng hoặc trích xuất ca-me-ra, những hình ảnh, video trong bàn nhậu thì mới có khả năng có căn cứ để xử lý trách nhiệm.
Kể từ ngày 01/01/2020, “hành vi ép buộc” người khác uống rượu bia là hành vi vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, các hành vi sau đây cũng bị cấm theo quy định của Luật Phòng chống tác tại của rượu bia năm 2019:
• Người chưa đủ 18 tuổi uống rượu, bia.
• Bán, cung cấp, khuyến mại rượu, bia cho người chưa đủ 18 tuổi.
• Sử dụng lao động là người chưa đủ 18 tuổi trực tiếp tham gia vào việc sản xuất, mua bán rượu, bia.
• Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, người làm việc trong lực lượng vũ trang nhân dân, học sinh, sinh viên uống rượu, bia ngay trước, trong giờ làm việc, học tập và nghỉ giữa giờ làm việc, học tập.
• Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
• Quảng cáo rượu có độ cồn từ 15 độ trở lên.
Theo quy định tại Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014 có quy định về thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau:
"1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc."
Theo quy định trên, anh chuẩn bị hồ sơ giấy tờ gồm có: tờ khai (theo mẫu), giấy khai sinh của con, các giấy tờ, chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc của người con để làm thủ tục đăng ký nhận cha cho con. Khi đi làm thủ tục thì các bên cha, mẹ, con đều phải có mặt.
Sau khi có Quyết định công nhận việc nhận cha, con anh mang Quyết định công nhận việc nhận cha cho con đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký khai sinh của cháu để làm thủ tục xin bổ sung thông tin vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh cho cháu bé ( vì cơ quan này là cơ quan đã cấp giấy khai sinh cho cháu). Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ bổ sung thông tin về người cha vào Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của cháu bé. Sau đó, anh có thể sử dụng Giấy khai sinh mới của cháu đã được bổ sung thêm tên của anh để làm thủ tục nhập khẩu cho cháu theo Hộ khẩu của anh.
Xin cảm ơn!
Để xác định tình trạng pháp lý của lối đi bị tranh chấp, mọi người cần kiểm tra các thông tin như sau:
• Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
• Kiểm tra quy hoạch
• Sơ đồ thửa đất
1. Hãy chắc chắn rằng bạn thật sự muốn ly hôn
Mọi mối quan hệ yêu đương đều sẽ trải qua những quá trình lên xuống, thời gian yêu đương lãng mạn hoặc thời kỳ khủng hoảng của cả hai. Đó là lý do vì sao sự chấp nhận cùng nhau vượt qua thử thách đều được nhắc tới trong lễ đường, và đương nhiên nó không hề đơn giản như khi bạn thốt ra lời thề đó. Nhưng nếu cả hai bạn đều có thể vượt qua được điều đó, thì chắc chắn mối quan hệ vợ chồng của bạn rất đáng quý.
Bạn chỉ nên xem xét vấn đề ly hôn khi đã thực sự kiệt sức với tất cả mọi cố gắng giải quyết vấn đề của bạn trước đó. Đảm bảo rằng bạn đã giải quyết vấn đề đó bằng tất cả tình yêu đối với bạn đời của mình, với tất cả sự bao dung, và có cách nhìn rộng về nó. Nhưng nếu kết quả vẫn không được như mong đợi, đừng buồn vì bạn đã cố gắng hết sức mình để níu kéo mối quan hệ này.
Hãy đào sâu với những lý do khiến bạn cân nhắc việc ly hôn, có phải vì những trở ngại đó dù bạn có cố gắng thế nào đi nữa, bạn cũng không thể vượt qua? Cả hai bạn không thể thỏa hiệp về một vấn đề như có con hoặc nơi để định cư? Có bất cứ trục trặc nào mà cả hai bạn đều chưa thể giải quyết hoặc sửa chữa hay không? Hãy tự hỏi chính mình rằng bạn có thể vượt qua được những khó khăn đó để hạnh phúc bên nhau một lần nữa hay không? Sự bất đồng khiến cả hai bạn giận dữ đến mức nghĩ ngay đến việc ly hôn?