Tin tức mới

Khoản 2 Điều 49 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:
Nếu quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực thiện các quyền của người sử dụng đất theo luật định.
Còn nếu đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện, khi đó người sử dụng đất trong khu vực cần phải chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất, tuy nhiên không được xây dựng mới công trình, nhà ở trồng cây lâu năm; trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu sửa chữa, cải tạo công trình, nhà ở hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo luật định.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 31/2018/HSST NGÀY 04/01/2018 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 04 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2017/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc L; tên  gọi khác: Không; sinh năm: 1981 tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Tiểu khu X, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn La; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Giáo viên; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đắc B, đã chết và bà Đoàn Thanh L, sinh năm: 1951; chồng là Trương Thanh T (đã ly hôn) và có 2 con, lớn nhất 16 tuổi, nhỏ nhất 8 tuổi; tiền án, tiền sự: không; bắt tạm giam giữ từ ngày 28/7/2017 cho đến nay, có mặt.

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có thể hiểu là loại giấy tờ cá nhân cam kết về tình trạng hôn nhân của mình: độc thân, đã ly hôn, đã kết hôn... khi muốn thực hiện một giao dịch hoặc một thủ tục nào đó như: Đăng ký kết hôn, thế chấp vay vốn ngân hàng...
Trong những trường hợp phải xác định quan hệ nhân thân, khi muốn xác nhận nghĩa vụ liên đới giữa vợ, chồng trong giao dịch... thì để thuận lợi cho việc quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, việc xin cấp xác nhận tình trạng hôn nhân là rất cần thiết.

Mua bán nhà đất

TƯ VẤN MUA BÁN NHÀ ĐẤT

Nhà cửa là tài sản có giá trị lớn nhưng không phải khi nào việc giao dịch cũng thuận buồm xuôi gió như ý bạn mà còn có những phát sinh, sai sót hay tranh chấp trong khi mua bán. Do đó để đảm bảo tính pháp lý của giao dịch , phòng ngừa các rủi ro khách hàng đừng nên tiếc tiền mà nên thuê một luật sư để tư vấn cho bạn trong suốt quá trình mua. Luật sư sẽ là người nắm kỹ tất cả các vấn đề pháp lý này để tư vấn cho khách hàng, giúp khách hàng tránh được những rủi ro bằng cách tư vấn và kiểm tra cho khách hàng những nội dung sau:

Bước 1: Xác minh nguồn gốc căn nhà , kiểm tra pháp lý, quy hoạch

1.1. Chủ thể
Theo quy định tại Điều 251 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì chủ thể của Tội rửa tiền là cá nhân, là bất cứ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định. Điều 324 BLHS năm 2015 đã mở rộng phạm vi chủ thể, đó là ngoài cá nhân, thì pháp nhân thương mại cũng là chủ thể của tội này. Việc đưa thêm chủ thể là pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế về thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng và cũng phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa.
1.2. Mặt khách quan
Theo quy định tại khoản 1 Điều 324 BLHS năm 2015, thì một người phạm tội rửa tiền khi thực hiện một trong các hành vi sau đây:
- Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có;
- Sử dụng tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác thực hiện hành vi phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác;
Điều 663 Bộ luật Dân sự 2005 quy định, vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Di chúc chung hợp pháp phải có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 điều 652, cụ thể:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
Điều 668 của bộ luật này cũng quy định: Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết
Pháp luật Việt Nam hiện nay, mới chỉ cho phép sự hoạt động của các trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân theo quy định Luật hôn nhân và gia đình 2014, Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, bạn có thể gửi đơn tố cáo tới Cơ quan Công an nơi Công ty đặt trụ sở để yêu cầu giải quyết theo quy định tại Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì:
"Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.
5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật."
Do vậy, bạn có thể tố giác hành vi lvi phạm này với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan, tổ chức khác.
Luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị hại không chỉ là hoạt động nghề nghiệp mà còn là trách nhiệm xã hội của người luật sư trong việc bảo vệ công lý.
Với đội ngũ luật sư chuyên về lĩnh vực tư vấn, bào chữa các vụ án hình sự, VPLS GIA ĐÌNH luôn sẵn sàng tham gia các vụ án theo yêu cầu của khách hàng, bằng kinh nghiệm và chuyên môn của chúng tôi, chúng tôi cam kết mang lại cho khách hàng những giải pháp tư vấn hữu hiệu nhất.
Trả lời: (câu trả lời mang tính chất tham khảo)
Chào bạn, Văn Phòng Luật Sư Gia Đình xin được tư vấn cho bạn như sau:
Thứ nhất, trường hợp của bạn có được ly hôn hay không?
– Theo khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định: Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì được tòa án giải quyết cho ly hôn.
Như vậy, Trong trường hợp của bạn, chồng bạn không có mặt nên bạn có thể tiến hành ly hôn theo yêu cầu của một bên và chồng bạn phải được Tòa án tuyên bố mất tích. Và theo quy định tại Điều 78 Bộ luật dân sự năm 2005, khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, toà án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Tranh chấp đất đai là những mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất (SDĐ) với nhau mà họ cho rằng, quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại, (thông thường tranh chấp về quyền sử dụng đất rơi vào một trong các dạng tranh chấp: Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp đòi lại đất do người khác đang sử dụng, tranh chấp từ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thừa kế, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất…). Khi có tranh chấp đất đai xảy ra trong cộng đồng dân cư, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp, Nhà nước sẽ tiến hành giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp đó theo quy định của pháp luật để bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của người Sử Dụng Đất ( viết tắt là SDĐ).
Căn cứ quy định tại Điều 202, Luật Đất đai năm 2013, thì “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”. Trường hợp tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, UBND cấp xã có trách nhiệm:
(1) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình SDĐ và hiện trạng SDĐ;
(2) thành lập hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND là chủ tịch hội đồng; đại diện ủy ban MTTQ xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh;
(3) tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.
Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, có chữ ký của chủ tịch hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của UBND cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã. Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.