Tội gây rối trật tự công cộng có bị đi tù không?

Tội gây rối trật tự công cộng là tội được quy định tại Điều 318 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể Điều luật quy định như sau:

Tội gây rối trật tự công cộng

1.Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

d) Xúi giục người khác gây rối;

đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

Hình phạt

Khoản 1: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với các hành vi khách quan theo quy định của khoản 1 điều này.

Khoản 2: phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu có thêm một trong các tình tiết tăng nặng sau đây:

+/ Có tổ chức;

+/ Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

+/ Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

+/ Xúi giục người khác gây rối;

+/ Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

+/ Tái phạm nguy hiểm.

Dấu hiệu pháp lý của tội phạm

Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm vào những nội qui, qui tắc, điều lệ.v.v.. về trật tựở những nơi công cộng. Tội phạm xâm phạm trực tiếp đến trật tự chung, vi phạm nếp sống văn minh, qui tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng.

Mặt khách quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện ở hành vi gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Đây có thể bao gồm các hành vi coi thường trật tự chung bằng lời nói cử chỉ gây mất trật tự hoặc là những hành vi càn quấy hành hung người khác (nhưng chưa gây thương tích) ở những nơi đông người như ở nhà ga, bến xe, rạp hát, công viên.v.v… gây lộn xộn, ảnh hưởng đến trật tự chung. Ví dụ: hò hét, đuổi đánh nhau trên đường phố hoặc lôi kéo, kích động người khác cùng tham gia.v.v…

Nơi công cộng là những nơi tập trung đông người như công viên rạp hát, nhà ga, bến xe, trên đường phố.v.v… có nhiều người qua lại nơi công cộng cũng có thể là những nơi trao đổi hàng hóa, nơi vui chơi giải trí của công dân.v.v…

Hành vi gây rối trật tự công cộng kèm theo sự đập phá tài sản hoặc có vũ khí thì tùy từng trường hợp có thể truy cứu trách nhiệm hình sự thêm về tội khác như tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Hành vi hành hung chống lại người duy trì trật tự công cộng, người đang thi hành công vụ thì có thể người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 330 Bộ luật hình sự (Tội chống người thi hành công vụ).

Hành vi gây rối trật tự công cộng không gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của người khác mà chỉ gây ảnh hưởng đến trật tự chung ở nơi công cộng. Nếu hành vi gây rối trật tự công cộng lại gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp, họ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng và tội gây rối trật tự công cộng theo nguyên tắc phạm nhiều tội.

Truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi gây rối trật tự công cộng khi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý.

Chủ thể của tội phạm

Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định.

Hậu quả xã hội

Tội gây rối trật tự công cộng là một trong những tội được quy định trong Luật Hình sự . Hậu quả xã hội của tội này có thể gây ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của xã hội, bao gồm:

An ninh và trật tự công cộng: Hành vi gây rối trật tự công cộng có thể dẫn đến sự lo sợ, bất ổn, và hỗn loạn trong xã hội. Điều này có thể ảnh hưởng đến an ninh và trật tự công cộng, tạo ra tình huống nguy hiểm cho người dân và cảnh sát phải can thiệp để duy trì trật tự.

Tác động đến tài sản: Gây rối trật tự công cộng có thể dẫn đến hủy hoại tài sản công cộng và tài sản cá nhân. Việc phá hoại tài sản này có thể gây mất mát lớn cho cá nhân, tổ chức, hoặc chính phủ, dẫn đến sự mất mát kinh tế và tài chính.

Ảnh hưởng đến kinh tế và du lịch: Các sự kiện gây rối trật tự công cộng có thể khiến các doanh nghiệp phải đóng cửa, dẫn đến mất việc làm cho người lao động và giảm doanh thu cho các ngành công nghiệp như du lịch và dịch vụ.

Thương vong và nguy cơ lỗi phát triển: Các xung đột và hỗn loạn có thể dẫn đến thương vong, thậm chí là tử vong cho người dân và cảnh sát. Hậu quả này là mất mát không thể khôi phục được cho các gia đình và xã hội.

Tóm lại, tội phạm này có thể gây ra nhiều hậu quả xã hội, bao gồm tác động đến an ninh, trật tự, tài sản, kinh tế, và quyền tự do của người dân. Việc trừng phạt và quản lý tội này có vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định xã hội và bảo vệ quyền và an toàn của người dân.

Điều kiện để người phạm tội gây rối trật tự công cộng được hưởng án treo

Gây rối trật tự công cộng là hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thậm chí có thể gây ra thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, xâm phạm đến quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân. Người phạm tội gây rối trật tự công cộng được hưởng án treo khi có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 65 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP) như sau:

  • Bị xử phạt tù không quá 03 năm.
  • Có nhân thân tốt: Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc
  • Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.
  • Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Như vậy, người phạm tội gây rối trật tự công cộng khi đáp ứng được các điều kiện nêu trên thì có thể được cơ quan có thẩm quyền xem xét cho hưởng án treo.

Trường hợp được hưởng án treo tội gây rối trật tự công cộng

Trường hợp người phạm tội không được hưởng án treo

Các trường hợp không được hưởng án treo được quy định cụ thể tại Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (được sửa đổi bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP) bao gồm:

  • Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
  • Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
  • Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.
  • Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp sau đây: Người phạm tội là người dưới 18 tuổi; Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể
  • Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp sau: Người phạm tội là người dưới 18 tuổi; Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng; Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể; Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú.
  • Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Như vậy người phạm tội gây rối trật tự công cộng thuộc các trường hợp nêu trên thì sẽ không được hưởng án treo .

>>>Xem thêm: Tội gây rối trật tự công cộng có được hưởng án treo không

Thủ tục kháng cáo xin hưởng án treo tội gây rối trật tự công cộng

Hồ sơ cần chuẩn bị

Căn cứ khoản 2, 3 Điều 332 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, hồ sơ kháng cáo xin hưởng án treo gồm có:

1. Đơn kháng cáo xin hưởng án treo, bao gồm các nội dung:

  • Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
  • Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;
  • Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;
  • Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

2. Chứng cứ, tài liệu bổ sung để chứng minh có điều kiện được hưởng án treo

Thủ tục xin hưởng án treo

Thủ tục xin hưởng án treo được quy định tại Điều 332, Điều 334, Điều 335, Điều 338, Điều 340 BLTTHS 2015 thủ tục bao gồm các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị và nộp hồ sơ kháng cáo án treo lên Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.

Đối với trường hợp đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo và chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.

Bước 2: Tòa án tiếp nhận và xử lý, kiểm tra tính hợp lệ đơn kháng cáo án treo

  • Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ nhưng nội dung chưa rõ, Tòa án cấp sơ thẩm thông báo ngay cho người kháng cáo để làm rõ.
  • Trường hợp quá thời hạn kháng cáo thì yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do và xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) để chứng minh lý do và đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng.
  • Trường hợp không có quyền hạn thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Tòa án trả lại đơn và thông báo bằng văn bản cho người làm đơn, Viện kiểm sát cùng cấp. Việc trả lại đơn có thể bị khiếu nại trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.

Bước 3: Thông báo về việc kháng cáo, gửi quyết định kháng nghị

  • Trường hợp đơn hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về việc kháng cáo theo quy định pháp luật.
  • Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.

Bước 4: Tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết phúc thẩm vụ án.

LS TRẦN MINH HÙNG


Hình ảnh văn phòng bào chữa