Tội vi phạm giao thông có bị đi tù không?

Theo điểm c khoản 6, điểm c khoản 8 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (Nghị định số 100/2019) thì: Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở, thì bị phạt tiền từ 06 triệu đồng đến 08 triệu đồng; điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, thì bị phạt tiền từ 16 triệu đồng đến 18 triệu đồng. Theo tinh thần của Nghị định số 100/2019, có thể hiểu rằng người tham gia giao thông điều khiển phương tiện trên đường có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của xử phạt hành chính thì mới thuộc trường hợp bị xử lý theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015; nếu nồng độ cồn vẫn trong mức độ của xử phạt vi phạm hành chính thì cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015.

Cũng ý kiến cho rằng cần khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hoàng Văn T về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015. Bởi lẽ, khoản 6 Điều 5 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định: 

“Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng chống tác hại của rượu, bia:

“... 6. Điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.

Khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 quy định: 

“1. Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 như sau: “Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”.

Theo đó, người điều khiển xe mô tô tham gia giao thông vi phạm luật giao thông đường bộ gây hậu quả chết người, nếu trong hơi thở có nồng độ cồn, thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015.

Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Bởi lẽ, khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 đã sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008; do đó, pháp luật nghiêm cấm người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn. Nhận thức rằng người điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn trong mức độ của xử phạt vi phạm hành chính theo điểm c khoản 6, điểm c khoản 8 Điều 5 Nghị định số 100/2019 thì áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015 để xử lý là không đúng. Bởi lẽ, quy định tại Nghị định số 100/2019 chỉ áp dụng đối với trường hợp chưa gây ra thiệt hại (là vi phạm pháp luật hành chính), còn nếu gây ra thiệt hại như: Làm chết người; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỉ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, thì dù nồng độ cồn của người điều khiển phương tiện giao thông chưa vượt quá mức quy định tại điểm c khoản 6, điểm c khoản 8 Điều 5 Nghị định số 100/2019 vẫn bị xử lý theo điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015.

Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn vướng mắc khi áp dụng pháp luật, bởi theo tinh thần của điểm b khoản 2 Điều 260 BLHS năm 2015 thì nồng độ cồn phải vượt quá mức quy định. Nói cách khác, pháp luật cho phép sử dụng rượu, bia nhưng nồng độ cồn phải ở mức độ quy định, nếu vượt quá là vi phạm. Điều này mâu thuẫn với khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019: Chỉ cần trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn là vi phạm pháp luật, là hành vi bị nghiêm cấm.
Nguồn: kiemsat.vn

Tội vi phạm quy định giao thông đường bộ được pháp luật quy định như thế nào?

Căn cứ khoản 72 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ sau đây:

Sửa đổi, bổ sung Điều 260 như sau:
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Uống rượu bia rồi lái xe máy tham gia giao thông bị xử phạt như thế nào?

Hiện nay, theo Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP (Có hiệu lực từ 01/01/2025) quy định về mức phạt khi uống rượu bia rồi lái xe máy như sau:

Xử phạt, trừ điểm giấy phép lái của người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ
....
6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở;
....
8. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
....
b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở.
9. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
...
d) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;
....
12. Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt chính, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:
a) Thực hiện hành vi quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này còn bị tịch thu thiết bị phát tín hiệu ưu tiên lắp đặt, sử dụng trái quy định;
b) Thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b, điểm h, điểm i, điểm k khoản 9 Điều này bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 10 tháng đến 12 tháng;
c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm d, điểm đ, điểm e, điểm g khoản 9; khoản 11 Điều này bị tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng.
13. Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị trừ điểm giấy phép lái xe như sau:
a) Thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 3; khoản 5; điểm b, điểm c, điểm d khoản 6; điểm a khoản 7 Điều này bị trừ điểm giấy phép lái xe 02 điểm;
b) Thực hiện hành vi quy định tại điểm đ khoản 4; điểm a khoản 6; điểm c, điểm d, điểm đ khoản 7; điểm a khoản 8 Điều này bị trừ điểm giấy phép lái xe 04 điểm;
c) Thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 7, điểm c khoản 9 Điều này bị trừ điểm giấy phép lái xe 06 điểm;
d) Thực hiện hành vi quy định tại điểm b khoản 8, khoản 10 Điều này bị trừ điểm giấy phép lái xe 10 điểm.

Theo đó uống rượu bia rồi lái xe máy tham gia giao thông bị xử phạt như sau:

(1) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng khi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở, đồng thời bị trừ 4 điểm.

(2) Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng khi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, đồng thời trừ 10 điểm.

(3) Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở, đồng thời tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 22 đến 24 tháng…



LS TRẦN MINH HÙNG


Hình ảnh văn phòng bào chữa