Bài bào chữa của ls trần minh hùng cho bị cáo phạm tội mua bán ma túy

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------------------
BÀI PHÁT BIỂU TRANH TỤNG TẠI TÒA
BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO ………………………………….
(Tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025)
Người bào chữa: Luật sư Trần Minh Hùng và Luật sư Châu Văn Viên, thuộc Văn phòng Luật sư Gia Đình.
KÍNH THƯA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Kính thưa đại diện Viện kiểm sát,
Kính thưa các luật sư đồng nghiệp và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa,
Tôi là Luật sư Châu Văn Viên, cùng Luật sư Trần Minh Hùng, thuộc Văn phòng Luật sư Gia Đình, tham gia bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Thông trong vụ án hôm nay.
Trước hết, chúng tôi nhận thức đầy đủ rằng các tội phạm về ma túy là loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm, gây tác hại nghiêm trọng cho xã hội, cho gia đình và cho chính người phạm tội. Vì vậy, việc xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội về ma túy là cần thiết. Tuy nhiên, nghiêm minh không có nghĩa là đánh đồng mọi bị cáo, càng không có nghĩa là bỏ qua nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội đối với những phần chưa được chứng minh chắc chắn, và nguyên tắc áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội khi pháp luật đã có sự thay đổi.
Với tinh thần đó, chúng tôi không trình bày bài bào chữa theo hướng phủ nhận toàn bộ trách nhiệm của bị cáo nếu Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị cáo có hành vi phạm tội. Trọng tâm bào chữa của chúng tôi là đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thận trọng các vấn đề then chốt: vai trò thực tế của bị cáo Lê Hoàng Thông; phạm vi khối lượng chất ma túy mà bị cáo thực sự phải chịu trách nhiệm; tình tiết trong bản khai thể hiện bị cáo chỉ làm thuê theo thỏa thuận, chưa nhận tiền công, chưa giao được hàng thì bị bắt; việc đánh giá hành vi chưa đạt; nhân thân, hoàn cảnh gia đình; và việc áp dụng chính sách pháp luật hình sự mới có lợi, đặc biệt là hướng không áp dụng hình phạt tử hình, ưu tiên mức án tù có thời hạn nếu đủ căn cứ pháp luật.
I. VỤ ÁN CÓ NHIỀU BỊ CÁO, NHIỀU TẦNG NẤC; DO ĐÓ PHẢI PHÂN HÓA VAI TRÒ, KHÔNG THỂ QUY KẾT CƠ HỌC
Thưa Hội đồng xét xử, qua hồ sơ vụ án và diễn biến xét hỏi, có thể thấy đây không phải là một vụ án đơn lẻ, phát sinh từ hành vi giản đơn của một cá nhân. Vụ án có nhiều bị cáo, nhiều mắt xích, nhiều địa điểm, nhiều lần giao nhận và có sử dụng các phương tiện liên lạc qua mạng xã hội, trong đó có các tài khoản ẩn danh. Hoạt động mua bán, giao nhận trong vụ án không diễn ra theo mô hình công khai, trực tiếp, mà có sự phân tầng: người liên hệ, người nhận thông tin, người giao hàng, người nhận hàng, người chuyển tiền, người giữ hàng, người tiêu thụ.
Chính đặc điểm này đặt ra một yêu cầu bắt buộc trong xét xử: phải phân hóa thật rõ vai trò từng bị cáo. Ai là người khởi xướng? Ai là người cung cấp nguồn ma túy? Ai là người điều hành toàn bộ? Ai là người chỉ nhận chỉ đạo trong một số lần? Ai là người chỉ biết một phần giao dịch? Ai là người được hưởng lợi chính? Những câu hỏi đó phải được trả lời bằng chứng cứ cụ thể, không thể trả lời bằng suy đoán hoặc bằng cách gộp toàn bộ diễn biến vụ án rồi đặt lên vai một bị cáo.
Đối với bị cáo Lê Hoàng Thông, Viện kiểm sát cho rằng bị cáo có vai trò quan trọng. Chúng tôi không né tránh đánh giá này. Tuy nhiên, chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử phân biệt rõ: “có vai trò nhất định” hoặc “có vai trò tích cực trong một số hành vi” không đồng nghĩa với “chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy toàn bộ đường dây”. Hai khái niệm này khác nhau về bản chất pháp lý và kéo theo hậu quả hình phạt rất khác nhau.
Nói cách khác, trong vụ án này, điều cần làm rõ không chỉ là bị cáo Lê Hoàng Thông có tham gia hay không, mà là bị cáo tham gia đến đâu, kiểm soát đến đâu, hưởng lợi đến đâu, và có thực sự là người đứng đầu chi phối toàn bộ hay không. Nếu chỉ dựa vào một số lời khai hoặc một số tình tiết rời rạc mà nâng vai trò của bị cáo lên thành người chủ mưu, cầm đầu thì sẽ không bảo đảm nguyên tắc đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện và đầy đủ.
II. BỊ CÁO LÊ HOÀNG THÔNG CHỈ LÀ NGƯỜI LÀM THEO THỎA THUẬN; KHÔNG PHẢI NGƯỜI HƯỞNG LỢI CHÍNH
Thưa Hội đồng xét xử, trong các vụ án đồng phạm về ma túy, việc xác định ai là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy phải dựa trên chứng cứ thể hiện quyền quyết định, quyền phân công, quyền chi phối nguồn hàng, giá cả, khách hàng, phương thức hoạt động và việc hưởng lợi chủ yếu. Nếu chỉ căn cứ vào một số lần giao nhận, một số lần liên lạc hoặc một số lời khai rời rạc để suy luận bị cáo là người cầm đầu toàn bộ thì chưa bảo đảm tính chặt chẽ của chứng minh trong tố tụng hình sự.
Đối với bị cáo Lê Hoàng Thông, theo phần tài liệu và bản khai cần được Hội đồng xét xử xem xét kỹ, bị cáo khai rõ mình chỉ làm thuê theo sự thỏa thuận với người tên Cường; tiền công thỏa thuận là sau khi bán hoặc giao dịch xong thì mỗi lần được trả 5.000.000 đồng. Điểm rất quan trọng là bị cáo chưa nhận được khoản tiền công nào do Cường trả. Nếu đúng như nội dung bản khai này, thì yếu tố hưởng lợi của bị cáo chỉ dừng lại ở một thỏa thuận tiền công nhỏ, chưa hiện thực hóa thành lợi ích thực tế, hoàn toàn khác với vai trò người bỏ vốn, người sở hữu ma túy, người quyết định giá cả, người điều hành đường dây hoặc người thu lợi chính từ hoạt động phạm tội.
Chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá tình tiết “làm thuê mỗi lần 5 triệu đồng, bán xong mới được trả, chưa nhận tiền lần nào” như một căn cứ rất quan trọng để phân hóa vai trò. Người làm thuê có thể có lỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự trong phạm vi hành vi của mình, nhưng không thể bị đồng nhất với người chủ mưu, người cung cấp nguồn hàng, người tổ chức, điều hành hoặc người hưởng lợi chính. Sự khác biệt này phải được phản ánh trong quyết định hình phạt.
Hồ sơ cũng cho thấy nguồn ma túy, các tài khoản liên lạc, các giao dịch và dòng điều phối trong vụ án còn có nhiều đối tượng khác. Có những đầu mối chưa được làm rõ đầy đủ; có những tài khoản ẩn danh; có những giao dịch thông qua trung gian hoặc người giao hàng bên ngoài. Như vậy, việc xác định bị cáo Thông là người duy nhất hoặc người cao nhất chi phối toàn bộ đường dây là chưa thật sự vững chắc nếu không có chứng cứ trực tiếp chứng minh quyền chỉ huy tổng thể.
Chúng tôi đề nghị Hội đồng xét xử nhìn nhận bị cáo Thông trong đúng vị trí của bị cáo: một người có tham gia, có lỗi, nhưng không thể mặc nhiên coi là người tạo lập toàn bộ đường dây. Nếu còn có người cung cấp nguồn, còn có người giao dịch độc lập, còn có tài khoản ẩn danh chưa làm rõ, còn có phần hành vi của người khác không nằm trong sự kiểm soát của bị cáo, thì không thể dồn toàn bộ trách nhiệm tổ chức lên bị cáo.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi trong chính sách hình sự mới, yếu tố “chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy” là ranh giới rất nhạy cảm khi xem xét khả năng áp dụng hình phạt cao nhất. Vì vậy, khi chưa chứng minh chắc chắn bị cáo là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy toàn bộ, thì phải giải thích theo hướng có lợi cho bị cáo.
III. ĐỐI VỚI PHẦN HÀNH VI CHƯA GIAO ĐƯỢC HÀNG, CHƯA NHẬN TIỀN, CẦN XEM XÉT DƯỚI GÓC ĐỘ PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT HOẶC CHƯA HOÀN THÀNH VIỆC MUA BÁN
Một tình tiết cần được phân tích riêng là: theo bản khai, bị cáo chưa giao được hàng thì đã bị bắt, chưa nhận được tiền công, cũng chưa hoàn tất việc giao nhận và thanh toán trong giao dịch cụ thể. Đây là tình tiết không thể xem nhẹ, vì nó phản ánh mức độ thực hiện hành vi, hậu quả thực tế và mức độ nguy hiểm cụ thể của hành vi.
Theo Điều 15 Bộ luật Hình sự, phạm tội chưa đạt là trường hợp người phạm tội cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Đối chiếu với tình tiết bị cáo chưa giao được hàng, chưa nhận tiền, bị phát hiện và bắt giữ trước khi giao dịch hoàn tất, chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phần hành vi này theo hướng phạm tội chưa đạt, hoặc ít nhất là tình tiết cho thấy hành vi chưa hoàn thành trọn vẹn về mặt thực tế, chưa phát sinh đầy đủ lợi ích vật chất như dự kiến và chưa gây ra hậu quả xã hội ở mức độ như một giao dịch đã hoàn tất.
Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, Điều 57 Bộ luật Hình sự quy định việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội và các tình tiết khác làm cho tội phạm không thực hiện được đến cùng. Nếu điều luật được áp dụng có hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì trong trường hợp phạm tội chưa đạt, mức hình phạt phải được xem xét theo hướng giảm nhẹ đáng kể, bảo đảm phân hóa giữa hành vi đã hoàn thành và hành vi chưa đạt.
Chúng tôi hiểu rằng trong thực tiễn xét xử các tội phạm về ma túy, việc xác định hoàn thành hay chưa đạt cần được cân nhắc rất chặt chẽ tùy từng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, chính vì đây là vụ án có mức hình phạt rất nghiêm khắc, thậm chí có thể liên quan đến sinh mạng của bị cáo, nên tình tiết “chưa giao được hàng, chưa nhận tiền, chưa hưởng lợi” phải được đối chiếu, đánh giá và lập luận đầy đủ. Nếu còn nghi ngờ hợp lý về việc giao dịch đã hoàn thành hay chưa, thì nghi ngờ đó phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị cáo.
Từ đó, chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử không chỉ đánh giá bị cáo theo khối lượng khách quan bị thu giữ, mà cần đánh giá cả tiến trình thực hiện hành vi: bị cáo có thực sự đã hoàn tất việc bán hay chưa; có nhận tiền hay chưa; có hưởng lợi hay chưa; việc bị bắt giữ đã làm cho hành vi không thể thực hiện đến cùng như dự kiến hay không. Đây là căn cứ quan trọng để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và lựa chọn mức hình phạt nhân đạo hơn.
IV. VỀ KHỐI LƯỢNG CHẤT MA TÚY: PHẢI CÁ THỂ HÓA PHẠM VI CHỊU TRÁCH NHIỆM, KHÔNG THỂ GỘP TOÀN BỘ MỘT CÁCH MÁY MÓC
Thưa Hội đồng xét xử, trong các vụ án ma túy, định lượng là yếu tố quyết định khung hình phạt. Nhưng định lượng không thể được sử dụng một cách cơ học. Đối với vụ án có nhiều người, nhiều giao dịch, nhiều lần giao nhận, nguyên tắc bắt buộc là phải xác định rõ bị cáo nào chịu trách nhiệm đối với khối lượng nào, trong lần nào, với mức độ nhận thức và ý chí chủ quan ra sao.
Nếu một bị cáo trực tiếp thực hiện một giao dịch, biết rõ về giao dịch đó và tham gia với ý chí thống nhất, thì bị cáo phải chịu trách nhiệm về giao dịch đó. Nhưng đối với những giao dịch mà bị cáo không trực tiếp tham gia, không được chứng minh là biết, không được chứng minh là thống nhất ý chí, không được hưởng lợi và không kiểm soát, thì không thể tự động cộng vào trách nhiệm của bị cáo chỉ vì các giao dịch đó nằm trong cùng vụ án.
Với bị cáo Lê Hoàng Thông, chúng tôi đề nghị Hội đồng xét xử tách bạch các nhóm chứng cứ: nhóm hành vi nào bị cáo trực tiếp thực hiện; nhóm hành vi nào bị cáo chỉ được nhắc đến qua lời khai của người khác; nhóm hành vi nào không có tài liệu khách quan chứng minh bị cáo biết và thống nhất ý chí; nhóm hành vi nào thuộc trách nhiệm độc lập của bị cáo khác. Việc tách bạch này không phải là làm nhẹ tính chất vụ án, mà là yêu cầu bắt buộc của nguyên tắc công bằng trong xét xử hình sự.
Không thể lấy toàn bộ khối lượng của một cấu trúc nhiều người, nhiều tầng, nhiều lần giao dịch để mặc nhiên quy cho một bị cáo, nếu chưa chứng minh được bị cáo biết, thống nhất ý chí và có khả năng chi phối toàn bộ khối lượng đó. Càng không thể lấy khối lượng chung của vụ án để đặt bị cáo vào vị trí người phải gánh hậu quả cao nhất nếu vai trò của bị cáo chỉ là làm thuê, không được hưởng lợi chính và chưa nhận tiền công.
Theo thông tin cần được đối chiếu trong hồ sơ, nếu khối lượng mà bị cáo Thông phải chịu trách nhiệm được xác định khoảng 2,3 kilôgam, tức dưới 03 kilôgam, thì đây là điểm có ý nghĩa quyết định khi áp dụng chính sách hình sự mới. Chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xác định rõ con số này theo phần trách nhiệm cá thể hóa của bị cáo, không gộp thêm các khối lượng không chứng minh được bị cáo biết, thống nhất ý chí hoặc có quyền chi phối.
Đặc biệt, khi mức hình phạt có thể tiến đến chung thân hoặc tử hình, thì chuẩn mực chứng minh phải càng nghiêm ngặt. Bất kỳ nghi ngờ hợp lý nào về phạm vi khối lượng, về vai trò chủ mưu, về khả năng chi phối toàn bộ, đều cần được xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo.
V. CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ MỚI THEO LUẬT SỐ 86/2025/QH15 LÀ CĂN CỨ QUAN TRỌNG ĐỂ LOẠI TRỪ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
Thưa Hội đồng xét xử, điểm mấu chốt trong phần tranh luận hôm nay là pháp luật hình sự đã có sự thay đổi. Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự đã thể hiện chính sách hình sự mới theo hướng phân hóa rõ hơn và hạn chế áp dụng tử hình đối với tội phạm ma túy, nhất là khi chưa đủ căn cứ xác định người phạm tội là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nhất.
Theo tinh thần sửa đổi mới của Điều 251 Bộ luật Hình sự, đối với các chất như Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11, khung 20 năm hoặc tù chung thân được đặt ở mức từ 100 gam đến dưới 03 kilôgam; còn khung tù chung thân hoặc tử hình chỉ đặt ra khi khối lượng từ 03 kilôgam trở lên. Đối với trường hợp có 02 chất ma túy trở lên, việc quy đổi và xác định tương đương cũng phải được thực hiện chặt chẽ theo quy định của điều luật, bảo đảm không gây bất lợi vượt quá chứng cứ đã chứng minh.
Đối chiếu với vụ án này, nếu Hội đồng xét xử xác định phần khối lượng bị cáo Thông phải chịu trách nhiệm là khoảng 2,3 kilôgam, dưới 03 kilôgam, thì bị cáo không rơi vào ngưỡng định lượng của khoản 5 Điều 251 để có thể áp dụng tử hình. Khi đó, nếu áp dụng đúng quy định có lợi của pháp luật hình sự mới, trường hợp của bị cáo chỉ nên được xem xét trong giới hạn của khoản 4 Điều 251, tức mức hình phạt 20 năm tù hoặc tù chung thân, tùy theo đánh giá toàn diện về vai trò, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và mức độ hoàn thành của hành vi.
Chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử nhấn mạnh nguyên tắc có lợi cho người phạm tội. Khi Nhà nước đã sửa đổi pháp luật theo hướng thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình, thì Tòa án khi xét xử cần thể hiện đúng tinh thần đó. Đối với bị cáo Thông, việc dưới 03 kilôgam, không phải người cầm đầu tuyệt đối, không chứng minh được hưởng lợi chính, chưa nhận tiền công và còn có tình tiết chưa giao được hàng, là những căn cứ rất mạnh để loại trừ hình phạt tử hình.
Hơn nữa, trong trường hợp Hội đồng xét xử cân nhắc giữa tù chung thân và tù có thời hạn, chúng tôi tha thiết đề nghị ưu tiên mức án tù có thời hạn. Lý do là bị cáo còn khả năng cải tạo; vai trò làm thuê chưa nhận lợi ích; hành vi chưa hoàn tất việc giao nhận; hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn; và chính sách hình sự mới đang hướng đến phân hóa, nhân đạo hóa. Tù có thời hạn vừa bảo đảm tính nghiêm khắc, răn đe, vừa giữ lại cơ hội sống, cơ hội sửa sai và cơ hội trở về chăm sóc gia đình sau một quá trình cải tạo nghiêm túc.
Ngay cả trong trường hợp Hội đồng xét xử cho rằng cần áp dụng mức án rất nghiêm khắc, chúng tôi cũng kính đề nghị tuyệt đối không áp dụng tử hình. Tử hình chỉ nên đặt ra trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nhất, khi người phạm tội thực sự là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, hưởng lợi chính hoặc có nhiều tình tiết tăng nặng. Nếu chưa chứng minh bị cáo Thông ở vị trí đó, thì việc loại trừ hình phạt tử hình là phù hợp với pháp luật hiện hành, với chính sách hình sự mới và với tinh thần nhân đạo của Nhà nước.
VI. VỀ NHÂN THÂN, HOÀN CẢNH GIA ĐÌNH VÀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ CỦA BỊ CÁO
Thưa Hội đồng xét xử, ngoài các vấn đề về vai trò, khối lượng và mức độ hoàn thành hành vi, chúng tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ nhân thân của bị cáo Lê Hoàng Thông. Theo hồ sơ, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trình độ học vấn hạn chế; nghề nghiệp không ổn định; điều kiện sống và nhận thức pháp luật còn nhiều giới hạn. Những yếu tố này không làm mất đi trách nhiệm hình sự, nhưng là căn cứ để đánh giá nguyên nhân, điều kiện phạm tội và khả năng cải tạo của bị cáo.
Đặc biệt, theo trình bày của gia đình và tài liệu liên quan, hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn: cha mẹ bị bệnh, cần người chăm sóc; chị gái đã lập gia đình riêng; bị cáo là lao động chính, là người còn trực tiếp gánh vác, phụ giúp và chăm lo cho cha mẹ. Hoàn cảnh này cho thấy phía sau bị cáo không chỉ là một cá nhân phạm tội, mà còn là một gia đình yếu thế, có cha mẹ bệnh tật đang trông chờ vào người con còn khả năng lao động.
Bị cáo cũng được xem xét về quá trình chấp hành pháp luật, nghĩa vụ công dân tại địa phương. Nếu địa phương xác nhận bị cáo trước khi phạm tội có thái độ sinh sống bình thường, chấp hành tốt chủ trương, pháp luật, không gây mất trật tự, không có tiền án tiền sự, thì đây là tình tiết nhân thân cần được ghi nhận theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Một con người từng có nhân thân chưa xấu, nay vấp ngã do nhận thức hạn chế, do bị lôi kéo làm thuê và do hoàn cảnh khó khăn, vẫn cần được pháp luật mở ra cơ hội cải tạo.
Trong quá trình tố tụng, nếu bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng để làm rõ vụ án, thì đó là tình tiết giảm nhẹ cần được ghi nhận theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nội dung bản khai thể hiện bị cáo thừa nhận phần việc của mình, khai về việc chỉ làm thuê, về thỏa thuận 5.000.000 đồng/lần, về việc chưa nhận tiền công và chưa giao được hàng. Những lời khai này cần được đánh giá không chỉ là chứng cứ buộc tội, mà còn là chứng cứ thể hiện thái độ khai báo, giúp làm rõ bản chất vai trò của bị cáo.
Chúng tôi cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh cá nhân của bị cáo trong mối liên hệ với chính sách khoan hồng của pháp luật. Một mức án nghiêm khắc là cần thiết để răn đe, nhưng mức án đó cũng cần mở ra cơ hội cải tạo. Nếu bị cáo còn khả năng cải tạo, còn khả năng nhận thức sai lầm, còn cơ hội trở thành người có ích, thì chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước cần được thể hiện bằng việc không loại bỏ hoàn toàn cơ hội sống và cơ hội sửa sai của bị cáo.
VII. ĐỐI ĐÁP VỚI QUAN ĐIỂM BUỘC TỘI CỦA VIỆN KIỂM SÁT
Kính thưa Hội đồng xét xử, chúng tôi tôn trọng quan điểm buộc tội của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, chúng tôi có một số ý kiến đối đáp như sau:
Thứ nhất, nếu Viện kiểm sát cho rằng bị cáo Thông giữ vai trò chính, thì cần chỉ rõ chứng cứ nào chứng minh bị cáo là người khởi xướng, người cung cấp nguồn ma túy, người điều hành toàn bộ giao dịch, người quyết định toàn bộ giá cả và người hưởng lợi chủ yếu. Nếu chứng cứ chỉ thể hiện bị cáo tham gia một số khâu, một số giao dịch hoặc chỉ làm thuê theo thỏa thuận với Cường, thì chỉ có thể đánh giá bị cáo trong phạm vi đó, không thể mặc nhiên nâng lên thành chủ mưu, cầm đầu toàn bộ.
Thứ hai, nếu Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt cao nhất dựa trên tổng khối lượng của vụ án, thì cần chứng minh bị cáo có ý thức chủ quan đối với toàn bộ khối lượng đó. Trong đồng phạm, trách nhiệm hình sự không chỉ dựa vào hậu quả khách quan, mà còn phải dựa vào sự thống nhất ý chí. Không có sự thống nhất ý chí đối với toàn bộ thì không thể buộc chịu toàn bộ.
Thứ ba, nếu Viện kiểm sát không chấp nhận lập luận phạm tội chưa đạt, chúng tôi vẫn đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận các tình tiết chưa giao được hàng, chưa nhận tiền, chưa hưởng lợi, chưa hoàn tất giao dịch như căn cứ giảm nhẹ thực chất khi lượng hình. Dù đánh giá theo hướng nào, tình tiết này vẫn làm giảm đáng kể mức độ nguy hiểm cụ thể so với trường hợp giao dịch đã hoàn thành, tiền đã nhận, lợi ích đã thu và ma túy đã được đưa ra tiêu thụ.
Thứ tư, nếu Viện kiểm sát cho rằng luật mới không làm thay đổi bản chất tội phạm, chúng tôi đồng ý rằng luật mới không xóa bỏ trách nhiệm hình sự. Nhưng luật mới làm thay đổi chính sách hình phạt và ngưỡng áp dụng hình phạt cao nhất. Chính sự thay đổi này là quy định có lợi, và theo nguyên tắc áp dụng pháp luật hình sự có lợi, phải được xem xét cho bị cáo đang bị xét xử.
Thứ năm, nếu Viện kiểm sát đề nghị chung thân hoặc tử hình để răn đe chung, chúng tôi cho rằng răn đe chung là cần thiết nhưng không thể vượt lên trên nguyên tắc cá thể hóa. Hình phạt tử hình chỉ nên áp dụng khi không còn khả năng lựa chọn hình phạt nào khác tương xứng hơn. Trong trường hợp còn nghi ngờ về vai trò chủ mưu, còn có khả năng phân hóa khối lượng, còn có tình tiết làm thuê chưa nhận tiền, còn có khả năng phạm tội chưa đạt và còn có chính sách pháp luật mới có lợi, thì tử hình không phải là lựa chọn phù hợp.
VIII. ĐỀ NGHỊ CỦA LUẬT SƯ
Từ các phân tích trên, chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử:
- Đánh giá lại vai trò của bị cáo Lê Hoàng Thông theo hướng bị cáo có tham gia nhưng không đủ căn cứ xác định là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy toàn bộ đường dây nếu chứng cứ không chứng minh chắc chắn điều này.
- Ghi nhận nội dung bản khai về việc bị cáo chỉ làm thuê theo thỏa thuận với Cường, mỗi lần sau khi bán hoặc giao dịch xong mới được trả 5.000.000 đồng; bị cáo chưa nhận tiền công lần nào; từ đó xác định bị cáo không phải người hưởng lợi chính.
- Đối với phần hành vi chưa giao được hàng, chưa nhận tiền và bị bắt trước khi hoàn tất giao dịch, đề nghị xem xét theo hướng phạm tội chưa đạt theo Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự; trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận là phạm tội chưa đạt thì vẫn cần coi đây là tình tiết giảm nhẹ thực chất khi lượng hình.
- Tách bạch khối lượng chất ma túy theo từng hành vi, từng giao dịch, từng nhóm bị cáo; chỉ buộc bị cáo chịu trách nhiệm đối với phần khối lượng mà bị cáo trực tiếp thực hiện hoặc được chứng minh có sự thống nhất ý chí.
- Áp dụng nguyên tắc có lợi theo Luật số 86/2025/QH15 đối với Điều 251 Bộ luật Hình sự. Nếu phần khối lượng bị cáo phải chịu trách nhiệm là khoảng 2,3 kilôgam, dưới 03 kilôgam, thì đề nghị xác định bị cáo không thuộc ngưỡng định lượng để áp dụng hình phạt tử hình.
- Ghi nhận các tình tiết giảm nhẹ về nhân thân, hoàn cảnh gia đình: cha mẹ bệnh, chị gái đã lấy chồng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có quá trình chấp hành tốt pháp luật tại địa phương nếu được xác nhận; đồng thời ghi nhận thái độ khai báo, ăn năn hối cải và khả năng cải tạo của bị cáo.
- Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tử hình đối với bị cáo Lê Hoàng Thông. Trên cơ sở vai trò làm thuê, chưa nhận lợi ích, hành vi chưa hoàn tất, khối lượng dưới 03 kilôgam và nhiều tình tiết giảm nhẹ, kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét một mức án tù có thời hạn. Trường hợp Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức án nghiêm khắc hơn, thì cũng đề nghị dừng ở mức không loại bỏ cơ hội sống và cơ hội cải tạo của bị cáo.
Đối với hình phạt bổ sung, nếu không chứng minh được bị cáo có tài sản riêng hoặc khoản lợi bất chính cụ thể, ổn định, chúng tôi cũng đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc không áp dụng hoặc áp dụng ở mức thấp nhất, tránh biến hình phạt bổ sung thành gánh nặng hình thức không có khả năng thi hành.
IX. LỜI KẾT TRANH TỤNG
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Một bản án nghiêm minh là bản án xử đúng người, đúng tội, đúng vai trò, đúng mức độ và đúng chính sách pháp luật tại thời điểm xét xử. Trong vụ án này, bị cáo Lê Hoàng Thông phải chịu trách nhiệm nếu Hội đồng xét xử xác định bị cáo có hành vi phạm tội. Nhưng trách nhiệm đó phải được đặt trong giới hạn chứng cứ đã được chứng minh, không thể mở rộng bằng suy đoán, không thể gộp toàn bộ khối lượng của nhiều người để áp đặt cho một người, và càng không thể bỏ qua chính sách pháp luật mới có lợi cho bị cáo.
Chúng tôi tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc: nghiêm trị là cần thiết, nhưng nghiêm trị phải đi cùng công bằng; trừng phạt là cần thiết, nhưng trừng phạt phải mở ra khả năng cải tạo; bảo vệ xã hội là cần thiết, nhưng bảo vệ xã hội cũng chính là bảo vệ nguyên tắc nhân đạo và thượng tôn pháp luật.
Bị cáo Lê Hoàng Thông không phải là người duy nhất trong vụ án, không thể bị coi là người gánh toàn bộ hậu quả khi chưa chứng minh được quyền điều hành tuyệt đối. Bị cáo khai chỉ làm thuê, mỗi lần được hứa trả 5.000.000 đồng sau khi xong việc, nhưng thực tế chưa nhận được tiền công; chưa giao được hàng thì đã bị bắt; khối lượng cần cá thể hóa nếu dưới 03 kilôgam thì không còn cơ sở áp dụng tử hình theo chính sách hình sự mới. Trong bối cảnh đó, chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tử hình, ưu tiên xem xét một mức án tù có thời hạn; nếu phải áp dụng mức án rất nghiêm khắc thì cũng cần bảo đảm còn cơ hội sống, cơ hội cải tạo và cơ hội làm lại cuộc đời cho bị cáo.
Xin trân trọng cảm ơn Hội đồng xét xử.
 
TP. Hồ Chí Minh, ngày ...... tháng ...... năm 2026
NGƯỜI BÀO CHỮA

Luật sư Trần Minh Hùng
(Ký và ghi rõ họ tên)

Hình ảnh văn phòng bào chữa