Người nuôi cha mẹ quản lý nhà đất cha mẹ trước khi chết có được chia nhiều hơn các đồng thừa kế khác không?

Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật

  • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

(Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015)

Con nuôi có được hưởng thừa kế không?

Theo như quy định về hàng thừa kế đã được đề cập ở phần trên, con nuôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên có quyền được hưởng thừa kế khi cha nuôi, mẹ nuôi qua đời. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp con nuôi đều được hưởng thừa kế như đối với con đẻ mà người con nuôi phải đáp ứng một số điều kiện của Luật nuôi con nuôi, cụ thể:

Theo Luật Nuôi con nuôi 2010 người nhận nuôi và con nuôi đều phải đáp ứng những điều kiện sau:

  • Người nhận nuôi phải có hành vi dân sự đầy đủ; Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; Có điều kiện sức khỏe, kinh tế, chỗ ở; Có tư cách đạo đức tốt;
  • Con nuôi ở thời điểm được nhận nuôi phải là trẻ em dưới 16 tuổi; Nếu từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì chỉ được cha dượng, mẹ kế; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi;
  • Việc nhận con nuôi trong nước phải được đăng ký tại UBND cấp xã nơi thường trú của con nuôi hoặc người nhận nuôi; Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nếu có yếu tố nước ngoài.

Khi được cơ quan đăng ký cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi, quan hệ con nuôi với cha mẹ nuôi mới chính thức được xác lập. Khi cha mẹ nuôi chết, con nuôi mới được hưởng quyền thừa kế theo pháp luật như con đẻ.

Quyền hưởng thừa kế của con riêng

Quyền hưởng thừa kế của con riêng

Đối chiếu quy định về hàng thừa kế được nêu tại mục 1 của bài viết ta thấy rằng con riêng không thuộc đối tượng được hưởng thừa kế. Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp con riêng được hưởng thừa kế như sau.

Người có di sản để lại di chúc cho con riêng

Quyền để lại di sản là quyền của người để lại di sản, như vậy trong trường hợp cha, mẹ có di chúc để lại tài sản cho con riêng thì con riêng hoàn toàn có quyền được hưởng thừa kế. Tuy nhiên cần lưu ý rằng việc con riêng có quyền hưởng thừa kế thì trước đó di chúc phải hợp pháp. Cụ thể di chúc cần phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:

  • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
  • Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Khi cha dượng, mẹ kế chung sống với con riêng

Ngoài trường hợp thừa kế theo di chúc, pháp luật còn quy định thêm một trường hợp về quyền thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế. Cụ thể, tại Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015 thì nếu con riêng và bố dượng, mẹ kế có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.

Luật sư tư vấn về thừa kế

Luật sư tư vấn về thừa kế

Quyền thừa kế là một trong những quy định được quan tâm hiện nay. Vì nhiều lý do khác nhau mà có những người sẽ để lại di sản cho người có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng với mình chứ không phải là người có cùng huyết thống. Tuy nhiên, việc để lại di sản cũng phải tuân theo quy định pháp luật để tránh những tranh chấp, bất cập.

Thấu hiểu được những nỗi băn khoăn của quý khách hàng về vấn đề thừa kế, Luật Long Phan chúng tôi sẽ hỗ trợ quý khách hàng những công việc sau đây:

  • Tư vấn về các quy định thừa kế;
  • Tư vấn lập di chúc và điều kiện có hiệu lực của di chúc;
  • Tư vấn giải quyết tranh chấp về thừa kế;
  • Đại diện tham gia tranh chấp về thừa kế.

1. Người quản lý di sản là ai?

Người quản lý di sản được xác định theo quy định tại Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

  • Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra;
  • Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản;
  • Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 thì di sản do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Như vậy, người quản lý di sản có thể được xác định theo các trường hợp sau đây:

  • Thứ nhất, người được người để lại di sản chỉ định trong di chúc. Đây là trường hợp phổ biến khi người để lại di sản đã lập di chúc hợp pháp và trong nội dung di chúc có xác định rõ cá nhân hoặc tổ chức cụ thể làm người quản lý di sản. Việc chỉ định này thể hiện ý chí của người để lại di sản nhằm bảo đảm tài sản được quản lý, bảo toàn đúng theo mong muốn của họ cho đến thời điểm phân chia cho những người thừa kế.
  • Thứ hai, người do những người thừa kế thỏa thuận cử ra. Trong thời gian di sản chưa được phân chia, các đồng thừa kế có quyền thỏa thuận để cử một cá nhân hoặc tổ chức làm người quản lý di sản. Trường hợp này chỉ được áp dụng khi người để lại di sản không có di chúc hoặc có di chúc nhưng không chỉ định người quản lý di sản. Việc thỏa thuận cử người quản lý giúp các bên thống nhất trong việc bảo quản, sử dụng di sản và hạn chế tranh chấp phát sinh.
  • Thứ ba, người đang trực tiếp chiếm hữu, sử dụng và quản lý di sản trên thực tế. Người quản lý di sản trong trường hợp này là người đang thực tế nắm giữ, sử dụng hoặc quản lý tài sản thừa kế. Họ có thể là người đã có quan hệ pháp lý với người để lại di sản trước đó như: Được ủy quyền quản lý tài sản, thuê, mượn tài sản hoặc là người cùng quản lý, sử dụng khối di sản với người để lại di sản khi người này còn sống… Trong thời gian chưa xác định được người quản lý chính thức thì người đang quản lý thực tế vẫn có trách nhiệm bảo quản di sản theo quy định pháp luật.
  • Thứ tư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế, chưa có người quản lý di sản và di sản đang ở trong tình trạng không có người trực tiếp quản lý thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có di sản sẽ tạm thời là chủ thể quản lý di sản. Việc quản lý này chỉ mang tính chất tạm thời nhằm bảo đảm an toàn cho di sản cho đến khi xác định được người thừa kế hoặc người quản lý di sản theo quy định của pháp luật.

LS TRẦN MINH HÙNG

Hình ảnh văn phòng bào chữa