Quy định về mức hình phạt đối với tội danh “Cố ý gây thương tích” với mức thương tích trên 11%

  1. Quy định về mức hình phạt đối với tội danh “Cố ý gây thương tích” với mức thương tích trên 11%

Căn cứ quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 quy định mức hình phạt đối với tội danh “Cố ý gây thương tích” với mức thương tích trên 11% bị xử phạt:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”.

  1. Gây thương tích có bị xử phạt hành chính không?

Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP nếu cá nhân có hành vi đánh nhau gây ra thương tích nhẹ nhưng không đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt hành chính số tiền từ 05 – 08 triệu đồng.

Đồng thời cá nhân có hành vi gây thương tích cho người khác phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là chi trả toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh cho người bị gây thương tích.

III. Kết luận

Dù có xảy ra chuyện không mong muốn, chúng ta nên luôn giữ bình tĩnh để không vì một phút bốc đồng mà chúng ta gây ra những hậu quả không đáng có.

Án treo là gì?

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.

Như vậy, án treo không được coi là hình phạt mà đơn giản chỉ là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù khi và chỉ khi người phạm tội đáp ứng được các điều kiện được quy định và Tòa xét thấy không cần phải cách ly họ khỏi xã hội. Thay vào đó, trong thời gian thử thách, họ chỉ chịu sự giáo dục, giám sát của chính quyền địa phương hoặc của cơ quan nơi làm việc. Tuy nhiên, nếu họ phạm tội mới trong thời gian thử thách thì hình phạt tù phải được áp dụng bằng cách tổng hợp hình phạt của bản án cũ và mới.

Cơ sở pháp lý: Điều 1, Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP sửa đổi bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Điều kiện hưởng án treo

Có mức phạt tù không quá 3 năm

Pháp luật chỉ đặt ra yêu cầu người phạm tội có mức phạt tù từ 3 năm trở xuống, không phân biệt là tội gì, cũng không phân biệt là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng.

Ngay cả trong trường hợp tổng hợp hình phạt chung không quá 3 năm, người phạm tội hoàn toàn có thể được hưởng án treo

Nhân thân tốt

Nghĩa là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, làm việc.

Những đối tượng sau cũng có thể được xem xét cho hưởng án treo:

  • Người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, đã được xóa án tích; đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà tính đến lần phạm tội này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác.
  • Người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác.
  • Người bị kết án mà vụ án được tách ra để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau (tách thành nhiều vụ án) và có đủ các điều kiện khác.

Có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trong 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần có ít nhất 1 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Nếu có tình tiết tăng nặng thì số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ 02 tình tiết trở lên, trong đó tồn tại ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP sửa đổi bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định

Mục đích của điều kiện này nhằm hỗ trợ cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát và giáo dục người phạm tội.

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án, cần có địa chỉ xác định cụ thể theo Luật Cư trú.

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Người phạm tội có khả năng tự cải tạo

Nếu Tòa xét thấy không cần bắt người phạm tội chấp hành hình phạt tù bởi họ có khả năng tự cải tạo và việc cho người đó hưởng án treo không ảnh hưởng xấu đến xã hội hay an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì người phạm tội có khả năng được hưởng án treo.

Tòa xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện

Tòa án được yêu cầu trước khi quyết định cho người phạm tội hưởng án treo cần đảm bảo xem xét thận trọng và chặt chẽ các điều kiện trên, đặc biệt xem xét kỹ đối với 1 số đối tượng đặc biệt sau:

  • Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
  • Người phạm tội bị xét xử cùng 1 lần về nhiều tội, trừ khi người đó là người chưa thành niên hoặc người đó bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người đó là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể.
  • Người phạm tội 2 lần trở lên, trừ khi:

Người đó là người chưa thành niên;

Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng;

Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;

Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú.

Không thuộc vào Các trường hợp không được hưởng án treo thì mới được xem xét

Người phạm tội là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Người thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.

Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp sau đây:

  • Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;
  • Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể

Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp sau:

  • Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;
  • Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng;
  • Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;
  • Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú”.

Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Thời gian thử thách của án treo

Thời gian thử thách của án treo bằng 2 lần mức hình phạt tù, với điều kiện không dưới 1 năm và không quá 5 năm.

Riêng với đối tượng được hưởng án treo đã bị tạm giữ, tạm giam:

  • Không trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù để ấn định thời gian thử thách.
  • Tòa án chỉ trừ thời gian họ đã bị tạm giữ, tạm giam này vào thời gian chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo hoặc bản án mới nếu họ phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo trong thời gian thử thách.

Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo

  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Tòa sơ thẩm không cho hưởng án treo nhưng Tòa phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.
  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, phúc thẩm lại, Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần đầu.
  • Tòa sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.
  • Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.
  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo nhưng Tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, Tòa sơ thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm lần sau.


LS TRẦN MINH HÙNG


Hình ảnh văn phòng bào chữa