Tin tức mới

Căn cứ pháp lý:
• Luật hôn nhân và gia đình 2014
• Bộ luật dân sự 2015
• Các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2014
Nội dung tư vấn:
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014, sau ly hôn, cha mẹ sẽ thỏa thuận về việc ai là người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng, thăm nuôi và chăm sóc con. Theo đó, một trong hai người sẽ là người trực tiếp nuôi con, người còn lại có nghĩa vụ cấp dưỡng, đồng thời có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con.
Căn cứ vào khoản 5 điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014, nếu phát hiện cha mẹ có những hành vi gây ảnh hưởng đến lợi ích của con thì những cá nhân, tổ chức sau có quyền yêu cầu tòa án thay đổi người nuôi con:
• Người thân thích;
• Các cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
• Các cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

Tư vấn thủ tục ly hôn với người nước ngoài

Những năm gần đây, việc công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài đã không còn xa lạ trong xã hội. Người ta có thể lấy người nước ngoài với mong ước đổi đời, cũng có người lấy vì tình yêu. Có những trường hợp lấy chồng nước ngoài với hy vọng có thể thay đổi cuộc sống tại nhiều vùng nông thôn của Việt Nam thậm chí còn chưa từng gặp mặt hay quen biết yêu thương. Chính vì thế có rất nhiều cặp đôi kết hôn với người nước ngoài nhưng sống không hạnh phúc. Và vì vậy việc ly hôn với người nước ngoài có thể xảy ra là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên việc kết hôn với người nước ngoài đã rất phức tạp vì thủ tục hành chính, việc ly hôn với người nước ngoài cũng phức tạp không kém.

Luật Trí Hùng xin tư vấn thủ tục ly hôn với người nước ngoài cho bạn đọc có thể hình dung rõ hơn về trình tự, các loại giấy tờ cần chuẩn bị khi cuộc sống gia đình của bạn với người bạn đời của mình là người nước ngoài không thể duy trì được nữa.

 Hồ sơ khởi kiện tranh chấp về phân chia di sản thừa kế:

✔ Đơn khởi kiện (theo mẫu)

✔ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, Chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế;

✔ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

Mà theo Điều 144 bộ luật dân sự năm 2005 quy định về phạm vi đại diện:
“1. Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền.
3. Người đại diện chỉ được thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.
4. Người đại diện phải thông báo cho người thứ ba trong giao dịch dân sự biết về phạm vi đại diện của mình.
5. Người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Trường hợp nhiều người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà khi cấp Giấy chứng nhận chưa phân chia thừa kế cho từng người thì cấp một Giấy chứng nhận cho người đại diện đối với toàn bộ diện tích đất, tài sản gắn liền với đất để.
Việc cử người đại diện ghi tên vào Giấy chứng nhận phải bằng văn bản thỏa thuận của những người được thừa kế đã xác định (có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật).
Căn cứ vào Điều 207 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“1. Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.
2. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.”.
Trường hợp sở hữu chung theo phần, mỗi đồng chủ sở hữu biết trước được tỷ lệ phần quyền của mình đối với khối tài sản chung. Phần quyền đó có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau. Do đó, tại Điều 209 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung”; và “Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Điều 216 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Các chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” .
Cũng tại Khoản 1 Điều 218 Bộ luật dân sự quy định: “Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình”. Như vậy, trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung thì việc quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản này phải được sự đồng ý của tất cả các đồng sở hữu đồng ý.
Chúng tôi là hãng luật tổng hợp nhiều đội ngũ luật sư giỏi, luật gia, thạc sỹ, chuyên viên, cộng tác viên có trình độ cao, năng lực chuyên môn cao, có kinh nghiệm, kiến thức hiểu biết rộng, kỹ năng tư vấn chuyên nghiệp, đặc biệt có trách nhiệm và đạo đức trong nghề nghiệp. Chúng tôi quan niệm Luật sư là nghề cao quý- cao quý vì nghề luật sư là nghề tìm công bằng và công lý cho xã hội. Luật sư bảo vệ cho những nạn nhân, tội phạm, và những người bị oan sai. Nghề luật sư là nghề rất nguy hiểm và khó khăn dù bào chữa, bảo vệ cho bất kỳ ai thì luật sư luôn gặp nguy hiểm vì sự thù hằn của bên đối lập. Do vậy để làm được luật sư thì phải có tâm, có đạo đức, có tài năng và phải đam mê nghề nghiệp, yêu nghề, chấp nhận có khăn, hy sinh và chấp nhận nguy hiểm. Nếu sợ nguy hiểm, sợ ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống của mình và gia đình thì rất khó hành nghề luật sư đúng nghĩa. Niềm vui của luật sư là khi giải oan được cho thân chủ, giúp được cho thân chủ, đem lại công bằng, công lý cho thân chủ nhằm góp phần đem lại công bằng cho xã hội. 
Theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng”. Theo đó, nếu bố mẹ chồng bạn tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất cho riêng chồng bạn thì đó là tài sản riêng của chồng bạn.
Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng được quy định tại Điều 44 Luật hôn nhân và gia đình như sau:
- Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Vợ, chồng hoặc cả hai người đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Có thể ly hôn theo yêu cầu của một bên trong các trường hợp sau:
– Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
– Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
– Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân và giả mạo văn bản, con dấu thì phải chịu hình phạt gì?

Phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân và giả mạo văn bản, con dấu thì phải chịu hình phạt gì?

Câu trả lời

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

VPLS GIA ĐÌNH gửi đến Quý đọc giả bài viết với nội dung về Nguyên tắc suy đoán vô tội theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Nguyên tắc suy đoán vô tội theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự

Nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguyên tắc này đã được công nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc. Đây được đánh giá là thành tựu quan trọng của văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người.

Nhà nước ta cũng đã công nhận điều này và ghi nhận tại Điều 13 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, theo đó: