Tin tức mới

Trao đổi với chúng tôi ở góc độ pháp lý, luật sư Trần Minh Hùng Trưởng phòng Luật sư Gia Đình, Đoàn Luật sư TP.HCM cho rằng khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng bằng phương thức nạp tiền vào cây CDM, giao dịch này là một dạng hợp đồng gửi giữ tài sản.

Thông qua thủ tục nạp tiền, gửi tiền vào ngân hàng tức là khách hàng và ngân hàng đã kết lập một hợp đồng gửi giữ tài sản.

Bộ luật dân sự 2015 có Điều 557 quy định về "Nghĩa vụ của bên giữ tài sản" như sau:

1. Bảo quản tài sản theo đúng thỏa thuận, trả lại tài sản cho bên gửi theo đúng tình trạng như khi nhận giữ.

2. Chỉ được thay đổi cách bảo quản tài sản nếu việc thay đổi là cần thiết nhằm bảo quản tốt hơn tài sản đó, nhưng phải báo ngay cho bên gửi biết về việc thay đổi.

3. Thông báo kịp thời cho bên gửi biết về nguy cơ hư hỏng, tiêu hủy tài sản do tính chất của tài sàn đó và yêu cầu bên gửi cho biết cách giải quyết trong một thời hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên gửi không trả lời thì bên giữ có quyền thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo quản và yêu cầu bên gửi thanh toán chi phí.

Theo quy định tại Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 được hướng dẫn tạ Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuê thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân quy định về các thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân:
1. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.
2. Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.
3. Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được Nhà nước giao đất.
4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau....
Mối quan hệ của bạn là cô ruột - cháu ruột nên không thuộc các mối quan hệ được miễn thuế thu nhập cá nhân từ việc nhận thừa kế.
Về lệ phí trước bạ được quy định tại Khoản 10 Điều 9 Nghị định 140/2016/NĐ-CP được hướng dẫn tại Khoản 10 Điều 5 Thông tư 301/2016/TT-BTC:
7. Đất thuê của Nhà nước theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê của tổ chức, cá nhân đã có quyền sử dụng đất hợp pháp....
10. Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất....
Thứ nhất, Theo thông tin bạn cung cấp, thì khoản tiền 200 triệu là khoản tiền mà cả 2 vợ chồng bạn tích góp được, kể cả khoản tiền 80 triệu trước khi kết hôn mà bạn tự nguyện đóng góp vào khối tài sản chung. Nên đây là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy thuộc sở hữu chung của cả 2 vợ chồng. Về số tiền lãi gửi tiết kiệm mà vợ chồng bạn nhận được hàng tháng cũng được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
 
Thứ hai, mặc dù người vợ là người đứng tên trong sổ tiết kiệm, nhưng phần tài sản này là tài sản chung của vợ chồng. Bởi vậy, người vợ không có quyền với toàn bộ phần tài sản này. Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Theo đó, nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác thì về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ được chia đôi.
Theo quy định tại Điều 130 Bộ luật Dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) thì thoả thuận về đặt cọc là một giao dịch dân sự; do đó, việc đặt cọc chỉ có hiệu lực khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 131 BLDS và phải được lập thành văn bản (có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính).
Theo quy định tại Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP về đặt cọc được xử lý như sau:
a. Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc vừa để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng vừa để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thì bên nào có lỗi làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện hoặc bị vô hiệu, thì phải chịu phạt cọc theo quy định tại khoản 2 Điều 363 BLDS.
b. Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mới có sự vi phạm làm cho hợp đồng không được thực hiện hoặc mới phát hiện hợp đồng bị vô hiệu thì không phạt cọc. Việc giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng hoặc xử lý hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo thủ tục chung.
Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đất là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng giữa các bên mua bán nhà đất. Có nhiều cách giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đất và một trong số đó là khởi kiện.
* Hợp đồng mua bán nhà đất là cách gọi phổ biến của người dân, theo pháp luật đất đai đây là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
3 cách giải quyết tranh chấp
Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở thì các bên có quyền lựa chọn hình thức giải quyết như sau:
- Thương lượng: Là việc hai bên tự đàm phán với nhau và đưa ra cách giải quyết mà không cần sự can thiệp của bên thứ ba.
- Hòa giải: Là cách giải quyết mà có người trung gian giúp các bên đưa ra phương án giải quyết tranh chấp.
- Khởi kiện: Là cách giải quyết tranh chấp tại Tòa án thông qua con đường khởi kiện.
Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP quy định:
“Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án”
Như vậy, khi xảy ra tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì các bên được khởi kiện luôn tại Tòa án.
Hồ sơ khởi kiện tranh chấp hợp đồng
Căn cứ Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện chuẩn bị 01 bộ hồ sơ, gồm:
- Đơn khởi kiện theo mẫu.
- Giấy tờ của người khởi kiện: Chứng minh thư nhân dân hoặc căn cước công dân.
- Tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm (hợp đồng chuyển nhượng,…).
Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Trình tự, thủ tục khởi kiện
* Nộp đơn khởi kiện (nộp hồ sơ khởi kiện)
Lưu ý: Nơi nộp đơn khởi kiện dưới đây áp dụng cho tranh chấp hợp đồng giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau.
Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố:
+ Nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân.
+ Nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn nếu các đương sự tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản.
- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể nộp đơn tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết (theo điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
- Hình thức nộp: Người khởi kiện nộp theo 1 trong 3 hình thức sau:
+ Nộp trực tiếp tại Tòa án.
+ Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính.
+ Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
* Tòa án thụ lý
Căn cứ Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
- Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
- Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
- Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
* Thủ tục chuẩn bị xét xử và xét xử sơ thẩm
- Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì có thể gia hạn nhưng không quá 02 tháng (theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án sẽ tổ chức hòa giải, nếu các bên hòa giải không thành thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm (nếu không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ).
- Sau khi có bản án sơ thẩm các bên tranh chấp có quyền kháng cáo nếu không đồng ý với bản án và phải có căn cứ.
Trên đây là hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán nhà đất. Đây là quy định cơ bản về hồ sơ khởi kiện, nơi nộp đơn khởi kiện, thời gian chuẩn bị xét xử.
 

Đánh giá lời khai nhận của người có ma túy để xác định tội danh và lần phạm tội

 

Trong những năm vừa qua hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn thi pháp luật hình sự nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng ngày càng hoàn thiện. Tuy nhiên việc xác định tội danh và việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần đối với 01 số tội phạm liên quan đến ma túy gặp không ít khó khăn. Chủ yếu đối với tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng nhỏ thuộc khung cấu thành cơ bản của tội phạm (khoản 1 của Điều luật). Việc chứng minh động cơ, mục đích phạm tội của bị can, bị cáo có ý nghĩa quan trọng để xác định có tội hay không có tội, bị can bị khởi tố, truy tố, xét xử ở khung khoản nào của Điều luật.

Tư vấn phân chia tài sản sau ly hôn theo quy định của pháp luật ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có một vấn đề cần được tư vấn. Sau khi ly hôn tài sản sẽ được phân chia thế nào. Bố mẹ chồng em mua 1 mảnh đất cho vợ chồng em làm nhà. Khi vợ chồng em làm nhà đất vẫn đứng tên ông bà. Vậy khi ly hôn nhà trên đất có được chia đều cho 2 vợ chồng em không vì quyền sở hữu vẫn mang tên bố mẹ chồng em ?
Em xin chân thành cảm ơn và mong nhận được tư vấn của luật sư.

Di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho những người còn sống. Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

Di sản thừa kế có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản.

Việc xác định di sản thừa kế mà người chết để lại căn cứ vào giấy tờ,tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó. Đối với trường hợp di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu chung thì việc xác định tài sản chung của người để lại di sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Khai nhận di sản thừa kế

Hồ sơ pháp lý các bên khai nhận di sản thừa kế

Do tác động của các lệnh hạn chế tụ tập đông người, giãn cách xã hội để phòng ngừa dịch Covid – 19, nhiều doanh nghiệp, cửa hàng gặp khó khăn khi doanh thu bị sụt giảm nghiêm trọng nhưng vẫn phải chịu các chi phí mặt bằng đắt đỏ. Do đó, nhiều tranh chấp về hợp đồng thuê mặt bằng phát sinh. Bài viết nãy sẽ phân tích vấn đề tranh chấp khá “nhạy cảm” về hợp đồng thuê mặt bằng trong mùa Covid – 19.

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thuê mặt bằng

QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHA MẸ MẤT QUYỀN THỪA KẾ THUỘC VỀ AI?

Trong cuộc sống sẽ có hai trường hợp xảy ra khi cha mẹ qua đời trước con cái. Trong trường hợp con chết sau cha mẹ có được hưởng thừa kế hay không thì sẽ ra nhiều khía cạnh khác nhau.

Đối với trường hợp đầu tiên là khi cha mẹ chết có để lại di chúc thì tài sản sẽ được chia theo di chúc. Còn trường hợp thứ hai là cha mẹ chết không để lại di chúc thì tài sản sẽ được pháp luật giải quyết  như sau:

Đối với những di sản là bất động sản sẽ có thời hiệu để người thừa kế xác nhận là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp không có ai xác nhận thừa kế thì di sản sẽ thuộc về người đang quản lý và nắm giữ di sản.