Tin tức mới

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 100
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Theo quy định tại Điều 401 của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội về hình thức hợp đồng dân sự thì:
"1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.
2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."
Trong trường hợp của bạn, theo căn cứ trên thì hợp đồng về chia lợi nhuận kinh doanh của hai bạn được thực hiện dưới dạng lời nói. Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể nào bắt buộc việc thỏa thuận chia lợi nhuận này phải thực hiện dưới dạng văn bản, do đó hợp đồng này là hợp pháp.
Như vậy, về nguyên tắc, việc nuôi con khi ly hôn trước hết do vợ chồng thỏa thuận, tòa án sẽ dựa vào thỏa thuận của các bên và quyền lợi tốt nhất của đứa con để quyết định giao quyền nuôi con cho người vợ hay người chồng.
Nếu không thỏa thuận được, vợ, chồng có thể yêu cầu tòa án giải quyết. Như vậy, trong trường hợp của chị Hoài, để được trực tiếp nuôi dạy con sau khi ly hôn chị có thể thỏa thuận cùng chồng. Nếu vợ chồng không đạt được tiếng nói chung, chị có thể yêu cầu tòa án giải quyết trao quyền nuôi con cho chị.
Theo quy định vừa nêu, con chị Hoài được hai tuổi (dưới 36 tháng) nên về nguyên tắc sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con, tòa án vẫn sẽ xem xét các yếu tố khác để đưa ra quyết định sẽ giao con cho ai nuôi dưỡng, cụ thể:
Điều kiện về vật chất: Thu nhập, tài sản, chỗ ở có đáp ứng được nhu cầu tối thiểu về ăn ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… của con. Điều kiện về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước tới nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn… của cha và mẹ. Do đó, nếu phải nhờ tòa án quyết định quyền nuôi con, chị Hoài cần chứng minh bản thân chị đáp ứng được các điều kiện trên.
Dựa trên quy định Luật đất đai năm 2013, để được bồi thường bạn cần đủ điều kiện theo Điều 75:
"Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
2. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
4. Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

Văn phòng luật sư tư vấn ly hôn

Văn phòng luật sư tư vấn ly hôn cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên sâu về thủ tục ly hôn. Với đội ngũ Luật sư có kinh nghiệm giải quyết các vụ việc ly hôn trong nước và có yếu tố nước ngoài, Luật sư sẽ hướng dẫn khách hàng cách thức giải quyết, thủ tục pháp lý ly hôn đồng thuận, ly hôn đơn phương, ly hôn có một bên vợ hoặc chồng là người nước ngoài.

Bên cạnh đó, chúng tôi còn tư vấn giải quyết các tranh chấp gắn liền với thủ tục ly hôn như: Thủ tục tranh chấp quyền nuôi con, thủ tục giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung…

Các nội dung tư vấn của Văn phòng luật sư tư vấn ly hôn bao gồm:

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định mới nhất

Luật sư tư vấn Hình sự tư vấn Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định mới nhất

Một trong những quy định quan trọng trong Bộ Luật Hình sự 2015 là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là căn cứ về việc có hay không việc khởi tố vụ án; khởi tố bị can. Luật sư tư vấn Hình sự tư vấn Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định mới nhất.

Trong các giao dịch thương mại giữa các đối tác kinh doanh, việc có được một hợp đồng pháp lý chặt chẽ, đúng pháp luật, đáp ứng được quyền lợi của các bên là một vấn đề vô cùng quan trọng. Với đội ngũ luật sư, chuyên gia giàu kinh nghiệm về môi trường kinh doanh và các rủi ro tiềm ẩn, Tư vấn nhật hướng sẵn sàng cung cấp dịch vụ tư vấn hợp đồng đảm bảo lợi ích kinh tế và hạn chế rủi ro khi ký kết và thực hiện Hợp đồng, với các công việc cụ thể như sau:

  • Tư vấn các trường hợp có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng;
  • Tư vấn các trường hợp hủy bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng;
  • Sửa đổi đề nghị, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng;
  • Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng;

Tư vấn về tranh chấp đất đai: Gia đình tôi có một mảnh đất nhưng hàng xóm lại tự ý trồng cây trên đất nhà tôi. Tôi muốn hòa giải trước khi khởi kiện. Xin hỏi, thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai được thực hiện như thế nào?

Luật Sư Gia Đình - trả lời:

 Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.”
Việc chia thừa kế theo pháp luật chỉ được thực hiện khi:
- Không có di chúc;
- Di chúc không hợp pháp;
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn như sau:
1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.
2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:
a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 59 của luật này.
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của luật này;
d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.