Tin tức mới
Thứ nhất: Tiền nghỉ những ngày đi khám thai
Tiền thai sản = Số ngày nghỉ theo Luật x (100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ khám thai/24)
Trường hợp khi nghỉ khám khi chưa đóng BHXH đủ 06 tháng thì tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của các tháng đã đóng BHXH.
Thứ hai: Tiền trợ cấp một lần khi sinh con
Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định:
– Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi.
– Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con.
Hiện tại mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng và dự kiến giữ nguyên trong năm 2021.
Tiền thai sản = Số ngày nghỉ theo Luật x (100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ khám thai/24)
Trường hợp khi nghỉ khám khi chưa đóng BHXH đủ 06 tháng thì tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của các tháng đã đóng BHXH.
Thứ hai: Tiền trợ cấp một lần khi sinh con
Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định:
– Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi.
– Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con.
Hiện tại mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng và dự kiến giữ nguyên trong năm 2021.
Theo khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ được cấp Giấy chứng nhận (cấp Sổ đỏ) nếu có đủ các điều kiện sau:
Điều kiện 1: Đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004;
Điều kiện 2: Đất sử dụng không vi phạm pháp luật về đất đai, cụ thể:
+ Không lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ;
+ Không lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng;
+ Không lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng khác;
+ Không lấn, chiếm đất đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp;
Điều kiện 1: Đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004;
Điều kiện 2: Đất sử dụng không vi phạm pháp luật về đất đai, cụ thể:
+ Không lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ;
+ Không lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng;
+ Không lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng khác;
+ Không lấn, chiếm đất đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp;
Căn cứ theo quy định tại Điều 113 Bộ luật lao động năm 2019 số 45/2019/QH14về nghỉ hằng năm:
Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.
Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.
2.2 Giaỉ quyết vấn đề
Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động.
Người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.
2.2 Giaỉ quyết vấn đề
Theo Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 thì việc xác định bồi thường thiệt hại đối với thiệt hại do tài sản bị xâm phạm gồm:
• Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
• Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
• Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Hình phạt đối với với hành vi cố ý hủy hoại tài sản của người khác
Theo Điều 178 BLHS quy định về tội phá hoại tài sản người khác như sau:
Hình phạt chính
• Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
• Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
• Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Hình phạt đối với với hành vi cố ý hủy hoại tài sản của người khác
Theo Điều 178 BLHS quy định về tội phá hoại tài sản người khác như sau:
Hình phạt chính
Như quy định nêu trên thì sổ tiết kiệm hình thành trước khi kết hôn được coi là tài sản riêng, sau khi kết hôn sẽ được coi là tài sản chung của vợ chồng vì:
• Khi bạn gửi tiền vào ngân hàng, số tiền dù là của riêng vợ/chồng, khi ngân hàng tiếp nhận sẽ chỉ ghi nhận là tiền chung và ngày tháng. Nếu ngày tháng ghi nhận sau khi hai người cưới thì đó là tài sản chung và ngược lại.
• Để chứng minh sổ tiết kiệm là tài sản riêng bạn phải đưa ra được chứng cứ chứng minh, ví dụ như văn bản thỏa thuận sổ tiết kiệm là tài sản riêng trước khi gửi tiền.
• Sổ tiết kiệm dù có được lập trước khi kết hôn nhưng hoa lợi, lợi tức từ sổ tiết kiệm sẽ được coi là tài sản chung vợ chồng (Định nghĩa tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014)
• Khi bạn gửi tiền vào ngân hàng, số tiền dù là của riêng vợ/chồng, khi ngân hàng tiếp nhận sẽ chỉ ghi nhận là tiền chung và ngày tháng. Nếu ngày tháng ghi nhận sau khi hai người cưới thì đó là tài sản chung và ngược lại.
• Để chứng minh sổ tiết kiệm là tài sản riêng bạn phải đưa ra được chứng cứ chứng minh, ví dụ như văn bản thỏa thuận sổ tiết kiệm là tài sản riêng trước khi gửi tiền.
• Sổ tiết kiệm dù có được lập trước khi kết hôn nhưng hoa lợi, lợi tức từ sổ tiết kiệm sẽ được coi là tài sản chung vợ chồng (Định nghĩa tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014)
"Điều 462. Tặng cho tài sản có điều kiện
1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.
3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại."
Như vậy, nếu việc tặng cho mảnh đất của ông ngoại bạn với bố mẹ bạn là việc tặng cho tài sản có điều kiện mà bố mẹ bạn không thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho thì ông ngoại bạn có quyền kiện đòi lại tài sản này.
1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.
3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại."
Như vậy, nếu việc tặng cho mảnh đất của ông ngoại bạn với bố mẹ bạn là việc tặng cho tài sản có điều kiện mà bố mẹ bạn không thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho thì ông ngoại bạn có quyền kiện đòi lại tài sản này.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể quy đinh tại điểm h khoản 2 hoặc điểm c khoản 3 Điều 151 BLHS là tổng tỷ lệ thương tích, tổn thương do hành vi phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi (dùng vũ lực, lấy bộ phận cơ thể, hành vi khác…) gây ra một cách cố ý hoặc vô ý.
Trường hợp đã áp dụng tình tiết định khung nêu trên thì người phạm tội không còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS 2015 vì một hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một lần. BLHS 2015 không quy định cụ thể về trường hợp này nhưng có thể tham khảo tương tự khoản 3 Điều 51 và khoản 2 Điều 52 BLHS 2015, Điều 14 Bộ Luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13.
- Áp dụng tình tiết định khung "làm nạn nhân chết " quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 151 khi người thực hiện hành vi dùng vũ lực chỉ nhằm mục đích mua bán người dưới 16 tuổi mà không nhằm mục đích giết người và không phải lấy các bộ phận cơ thể quyết định sự sống của nạn nhân, nhưng trong khi thực hiện hành vi đã vô ý gây hậu quả chết người.Ví dụ, lấy bộ phận cơ thể không phải bộ phận cơ thể quyết đinh sự sống của nạn nhân nhưng khi chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể làm nạn nhân chết do bị nhiễm trùng hoặc thể trạng yếu. (Tham khảo Điều 6 Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP ).
Trường hợp đã áp dụng tình tiết định khung nêu trên thì người phạm tội không còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 134 BLHS 2015 vì một hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một lần. BLHS 2015 không quy định cụ thể về trường hợp này nhưng có thể tham khảo tương tự khoản 3 Điều 51 và khoản 2 Điều 52 BLHS 2015, Điều 14 Bộ Luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13.
- Áp dụng tình tiết định khung "làm nạn nhân chết " quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 151 khi người thực hiện hành vi dùng vũ lực chỉ nhằm mục đích mua bán người dưới 16 tuổi mà không nhằm mục đích giết người và không phải lấy các bộ phận cơ thể quyết định sự sống của nạn nhân, nhưng trong khi thực hiện hành vi đã vô ý gây hậu quả chết người.Ví dụ, lấy bộ phận cơ thể không phải bộ phận cơ thể quyết đinh sự sống của nạn nhân nhưng khi chiếm đoạt mô, bộ phận cơ thể làm nạn nhân chết do bị nhiễm trùng hoặc thể trạng yếu. (Tham khảo Điều 6 Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP ).
Bước 1: Nộp hồ sơ
Vợ/chồng nộp hồ sơ để làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi cả hai đang cư trú hoặc nơi làm việc của vợ hoặc chồng. Hoặc nơi cư trú, nơi làm việc của bị đơn (chồng hoặc vợ) trong trường hợp là đơn phương ly hôn.
Bước 2: Thông báo nộp tiền án phí
Sau khi đã nhận đơn khởi kiện với hồ sơ hợp lệ thì Tòa án sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí.
Án phí ly hôn sẽ được quy định như sau:
Mức án phí sẽ áp dụng khi giải quyết thủ tục ly hôn được quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 như sau:
1. Án phí Dân sự, hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là: 300.000 đồng
2. Án phí trong trường hợp giải quyết thủ tục ly hôn có xảy ra tranh chấp về tài sản, sẽ áp dụng như sau:
• Từ 6.000.000 đồng trở xuống: Mức án phí là 300.000 đồng;
• Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng: Mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp;
• Từ 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng: Mức án phí là 20.000. 000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng;
Vợ/chồng nộp hồ sơ để làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi cả hai đang cư trú hoặc nơi làm việc của vợ hoặc chồng. Hoặc nơi cư trú, nơi làm việc của bị đơn (chồng hoặc vợ) trong trường hợp là đơn phương ly hôn.
Bước 2: Thông báo nộp tiền án phí
Sau khi đã nhận đơn khởi kiện với hồ sơ hợp lệ thì Tòa án sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí.
Án phí ly hôn sẽ được quy định như sau:
Mức án phí sẽ áp dụng khi giải quyết thủ tục ly hôn được quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 như sau:
1. Án phí Dân sự, hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là: 300.000 đồng
2. Án phí trong trường hợp giải quyết thủ tục ly hôn có xảy ra tranh chấp về tài sản, sẽ áp dụng như sau:
• Từ 6.000.000 đồng trở xuống: Mức án phí là 300.000 đồng;
• Từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng: Mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp;
• Từ 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng: Mức án phí là 20.000. 000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng;
Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:
“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”
Bên cạnh đó, tại Phần 1 Giải đáp 01/GĐ-TANDTC năm 2018 có quy định đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10-9-1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990.
Do đó, với trường hợp của bạn, mẹ bạn mất năm 1977, bố bạn mất năm 1998 căn cứ theo quy định trên thì thời hiệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế vẫn còn. Do vậy, các đồng thừa kế trong trường hợp này vẫn có quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế.
Thắc mắc của bạn về quyền thừa kế thế vị của 3 người con của bà chị đã chết, theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự 2015 về thừa kế thế vị thì: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”
“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.”
Bên cạnh đó, tại Phần 1 Giải đáp 01/GĐ-TANDTC năm 2018 có quy định đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10-9-1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là: thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10-9-1990.
Do đó, với trường hợp của bạn, mẹ bạn mất năm 1977, bố bạn mất năm 1998 căn cứ theo quy định trên thì thời hiệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế vẫn còn. Do vậy, các đồng thừa kế trong trường hợp này vẫn có quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế.
Thắc mắc của bạn về quyền thừa kế thế vị của 3 người con của bà chị đã chết, theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự 2015 về thừa kế thế vị thì: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”
Luật sư Hùng cũng cho rằng, ông Trường không có nghĩa vụ phải trả khoản nợ hơn 50 triệu đồng nếu ông chứng minh được ông không vay tiền qua thẻ FE CREDIT, mà việc vay tiền này phát sinh do hành vi vi phạm của nhà mạng và chủ thuê bao đã mua lại Sim kia. Vinaphone và chủ thuê bao này có trách nhiệm liên đới trả tiền vay và tiền lãi cho phía FE CREDIT đúng như những thỏa thuận quy định trong hợp đồng vay. Ngoài ra, luật sư cũng khuyến cáo, ông Trường phải chuẩn bị đủ các tài liệu, chứng cứ để chứng minh tại thời điểm chủ thuê bao vay tiền và xác nhận hợp đồng vay qua hình thức thẻ FE CREDIT không phải là ông. Ông Trường có thể khiếu nại đến nhà mạng đã bán Sim cho người khác và yêu cầu nhà mạng phải có trách nhiệm hỗ trợ ông Trường làm việc với FE CREDIT. Ví dụ: ông Trường có thể yêu cầu phía FE CREDIT cung cấp hình ảnh người đã vay thông qua hình ảnh xác nhận hợp đồng vay, thông tin cá nhân, địa chỉ trên hợp đồng, ông cũng có thể nhờ cơ quan công an can thiệp giải quyết cho ông về những hành vi vi phạm của các đối tượng nêu trên.